CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TÁC ĐÀO TẠO NHÂN LỰC 1. Tổng quan về nhân lực 1.1 Khái niệm và đặc điểm nhân lực tại Việt Nam 1. Khái niệm Nhân lực được xem là tài sản quan trọng nhất của bất kỳ quốc gia nào và việc đầu tư vào con người luôn là một điều tất yếu trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Sự tăng trưởng kinh tế của một quốc gia chỉ có thể thực hiện được khi việc phát triển nhân lực của quốc gia đó được quan tâm và chú trọng.
Cho đến nay, do được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau, nên vẫn có nhiều cách hiểu khác nhau khi bàn về khái niệm nhân lực như sau: - Theo Liên Hợp quốc: “Nhân lực là trình độ lành nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế, hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế-xã hội trong một cộng đồng” (Tạp chí Thư viện Việt Nam số 5, 2011, tr17-21) - Ngân hàng thế giới cho rằng: “Nhân lực là toàn bộ vốn con người bao gồm thể lực, trí lực, kỹ năng nghề nghiệp… của mỗi cá nhân”. (Nguyễn Sinh Cúc, Tạp chí Lý luận chính trị số 2, 2014) - Theo giáo trình “Nhân lực” của Nhà xuất bản Lao động xã hội: “Nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có khả năng lao động, không phân biệt người đó đang được phân bố vào ngành nghề, lĩnh vực, khu vực nào và có thể coi đây là nhân lực xã hội” (Tạp chí Thư viện Việt Nam số 5, 2011, tr17-21) - Theo các nhà khoa học tham gia chương trình KX-07: “Nhân lực cần được hiểu là số dân và chất lượng con người, bao gồm cả thể chất và tinh thần, sức khỏe và trí tuệ, năng lực, phẩm chất và đạo đức của người lao động” (Tạp chí Thư viện Việt Nam số 5, 2011, tr17-21) - Theo Tổ chức Lao động quốc tế: “Nhân lực của một quốc gia là toàn bộ những người trong độ tuổi có khả năng tham gia lao động”. (Nguyễn Sinh Cúc, Tạp chí Lý luận chính trị số 2, 2014) - Dưới góc độ kinh tế phát triển: “Nhân lực là một bộ phận dân số trong độ tuổi quy định có khả năng tham gia lao động. Nhân lực được biểu hiện trên hai mặt: về số lượng đó là tổng số những người trong độ tuổi lao động làm việc theo quy định của 6 nhà nước và thời gian lao động có thể huy động được từ họ; về chất lượng, đó là sức khoẻ và trình độ chuyên môn, kiến thức và trình độ lành nghề của người lao động”.
(Nguyễn Sinh Cúc, Tạp chí Lý luận chính trị số 2, 2014) - Tiếp cận dưới góc độ kinh tế chính trị: “Nhân lực là tổng hòa thể lực và trí lực tồn tại trong toàn bộ lực lượng lao động xã hội của một quốc gia, trong đó kết tinh truyền thống và kinh nghiệm lao động sáng tạo của một dân tộc trong lịch sử, được vận dụng để sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần phục vụ cho nhu cầu hiện tại và tương lai của đất nước”. (Nguyễn Sinh Cúc, Tạp chí Lý luận chính trị số 2, 2014) Mặc dù có rất nhiều cách tiếp cận cũng như các định nghĩa khác nhau về nhân lực, xong một cách chung nhất chúng ta có thể hiểu là theo nghĩa rộng, nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển. Do đó, nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triển bình thường. Theo nghĩa hẹp, nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế – xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động.
Đặc điểm nhân lực tại Việt Nam Với mức dân số đã chạm ngưỡng 100 triệu người ở thời điểm hiện tại, Việt Nam được thế giới đánh giá là có lợi thế về dân số đông, đang trong thời kỳ “dân số vàng” nên lực lượng trong độ tuổi lao động khá dồi dào. Nhân lực ở nước ta được cấu thành chủ yếu là nông dân, công nhân, trí thức, doanh nhân, dịch vụ và nhân lực của các ngành, nghề. Hiện nay nhân lực tại nước ta được chia làm hai loại hình chính, đó là: nhân lực phổ thông và nhân lực chất lượng cao. Chiếm số đông hiện tại vẫn là nhân lực phổ thông, trong khi đó, tỷ lệ nhân lực chất lượng cao lại chiếm tỷ lệ rất thấp.
Theo thống kê của Tổng cục Thống kê, tỷ lệ lao động qua đào tạo ở Việt Nam từ 40% năm 2010 lên 65% năm 2020, tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc đã qua đào tạo liên tục tăng lên qua các năm, từ 15,4% vào năm 2011 đã tăng lên 24,1% vào năm 2021(1). Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo không ngừng tăng lên làm cho chất lượng nhân lực Việt Nam không ngừng được cải thiện. Đội ngũ nhân lực có trình độ chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp khá đã được thu hút và phát huy hiệu quả lao động cao 7 ở một số ngành, lĩnh vực như bưu chính viễn thông, công nghệ thông tin, sản xuất ô tô, xe máy, đóng tàu, công nghiệp năng lượng, y tế, giáo dục,… và xuất khẩu lao động. Đội ngũ doanh nhân Việt Nam ngày càng tăng về số lượng và cải thiện về kiến thức, kỹ năng kinh doanh, từng bước đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế.
Tuy nhiên, tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo ở Việt Nam còn khá lớn, chất lượng đào tạo thấp, cơ cấu ngành nghề chưa hợp lý. Hiện nay, nước ta đang thiếu công nhân có kỹ năng lao động cao, thiếu những cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi, nhà khoa học và chuyên gia đầu ngành trên nhiều lĩnh vực, nhưng thừa lao động thủ công, không qua đào tạo. Trong khi đó, cạnh tranh quốc tế bằng lao động phổ thông, giá nhân công rẻ cho thấy không mang lại hiệu quả cao. Sự thiếu hụt nhân lực có chất lượng cao đang trở thành trở ngại lớn cho tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế.
Theo dự báo của Tổng cục Thống kê, thời kỳ dân số vàng sẽ kéo dài trong khoảng 34 năm và kết thúc vào năm 2041. Như vậy, chúng ta đã trải qua hơn 10 năm trong thời kỳ cơ cấu dân số vàng, nhưng thực tế cho thấy giá trị thặng dư, hiệu suất kinh tế chưa tương xứng với số lượng lao động hiện có của cả nước. Điều này thể hiện rõ ở việc so sánh năng suất lao động của Việt Nam thấp hơn nhiều so với một số nước trong khu vực. Năng suất lao động của Việt Nam năm 2020, theo ước tính của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO), thấp hơn 7 lần so với Malaysia; 4 lần so với Trung Quốc; 3 lần so với Thái Lan; 2 lần so với Philippines và 26 lần so với Singapore.
Báo cáo 2020 của Tổ chức Năng suất châu Á (APO) cũng cho thấy, năng suất lao động Việt Nam tụt hậu so với Nhật Bản 60 năm, so với Malaysia 40 năm và Thái Lan 10 năm. Lê Thị Chiên, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh; TS. Thành Thu Trang, Học viện Chính trị Khu vực, 2023) 1. Khái niệm đào tạo nhân lực Đào tạo: Đào tạo là cách thức để truyền dạy các kỹ năng thực hành, nghề nghiệp hay kiến thức liên quan đến một lĩnh vực cụ thể, để người học lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kĩ năng, nghề nghiệp một cách có hệ thống để chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống và khả năng đảm nhận được một công việc nhất định.
Đào tạo nhân lực: Được hiểu là các hoạt động học tập nhằm giúp cho người lao động có thể thực hiện có hiệu quả hơn chức năng, nhiệm vụ của mình. Đó chính là quá trình học tập làm cho người lao động nắm vững hơn về công việc của mình, là những hoạt động học tập để nâng cao trình độ, kỹ năng của người lao động để thực hiện 8 nhiệm vụ lao động của mình có hiệu quả hơn. Đào tạo là hoạt động phát triển nhân lực, là tổng thể các hoạt động có tổ chức diễn ra trong khoảng thời gian xác định nhằm làm thay đổi hành vi nghề nghiệp của người lao động. Thị trường kinh doanh luôn biến động, cùng với xu hướng toàn cầu hóa, phát triển công nghiệp tự động hóa cũng mang lại không ít rào cản.
Đặc biệt, trong thời kỳ “bình thường mới” và khôi phục, thúc đẩy nền kinh tế sau đại dịch, đòi hỏi doanh nghiệp phải đưa ra những chiến lược sáng tạo thành công. Trong bối cảnh này, đào tạo nhân lực chính là yếu tố nòng cốt giúp mọi doanh nghiệp, mọi ngành nghề phát triển. Đào tạo ở đây không chỉ dừng lại ở kỹ năng mềm hay kỹ năng cứng cơ bản, người lao động cần được cập nhật kiến thức mới, về công nghệ, tự động hóa cũng như phương pháp tân tiến để thúc đẩy hiệu suất công việc. Vậy nên, đào tạo nhân lực hướng đến mục tiêu chính là tối ưu hóa quy trình làm việc cho nhân viên, nâng cao nền tảng nội lực doanh nghiệp.
Khi có nguồn lực con người mạnh, doanh nghiệp mới có thể “đứng vững” và hiện thực hóa mục tiêu tái định hình cũng như những mục tiêu dài hạn. Vai trò của đào tạo nhân lực trong doanh nghiệp Nhân lực càng có trình độ chuyên môn cao, kỹ năng tốt thì doanh nghiệp càng vững mạnh. - Đối với doanh nghiệp Theo báo cáo đăng trên The International Journal of Business and Management Research vào năm 2019, 90% nhân viên đồng ý rằng các chương trình đào tạo và phát triển nhân lực đã góp phần cải thiện hiệu suất làm việc của họ. Từ đó sẽ giúp cho doanh nghiệp thu về nguồn lợi nhuận và đứng vững trên thị trường kinh tế đầy biến động.
Đào tạo nhân lực mang lại nhiều lợi ích về chiến lược dài hạn của doanh nghiệp cũng như đội ngũ nhân viên. Đào tạo nhân lực giúp doanh nghiệp có thể sử dụng tối ưu lực lượng lao động hiện có, nâng cao hiệu quả công việc. Từ đó sẽ giúp doanh nghiệp thực hiện được các mục tiêu đã đề ra, quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Nhân sự giỏi sẽ là mũi nhọn, là cái khiên vững chắc cho doanh nghiệp trước thị trường đầy biến động.