Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỦ TỤC TỐ TỤNG TẠI PHIÊN TÒA SƠ THẨM HÌNH SỰ 1. QUY ĐỊNH CHUNG VỀ THỦ TỤC TẠI PHIÊN TÒA HÌNH SỰ 1. Khái niệm về thủ tục tại phiên tòa hình sự Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa được ghi nhận trong Hiến pháp Việt Nam năm 1992 bảo đảm "mọi hành vi phạm tội phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật" 6. Điều 3, BLTTHS quy định: "Mọi hoạt động tố tụng hình sự phải tiến hành theo quy định của Bộ luật này" 9.
Như vậy, để giải quyết vụ án hình sự một cách khách quan, toàn diện, đúng pháp luật bắt buộc phải trải qua nhiều giai đoạn khác nhau và do nhiều cơ quan khác nhau tiến hành nhưng tất cả các hoạt động tố tụng của các cơ quan này đều phải được quy định trong BLTTHS, mỗi giai đoạn tố tụng hình sự phải được tiến hành theo đúng trình tự, thủ tục mà Bộ luật đã quy định. Trong tố tụng hình sự, hoạt động xét xử là đặc biệt quan trọng, biểu hiện tập trung cao nhất của cả quá trình giải quyết vụ án hình sự. Qua hoạt động xét xử, Tòa án - với vai trò nhân danh Nhà nước - mới có thể ra được bản án phán quyết về một vụ án bất kể đó là vụ án lớn hay nhỏ, bị cáo đưa ra truy tố được phán quyết có tội hay không có tội…, nhất là trong khi Hiến pháp năm 1992 (Điều 72) đã quy định rõ: "Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật" 22. Điều này cũng có nghĩa, tội phạm phải bị trừng phạt, người phạm tội phải chịu các biện pháp cưỡng chế phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của tội phạm mà họ đã gây ra.
Ngược lại, nếu không có hoạt động xét xử của tòa án thì cũng không thể kết tội bất kỳ một con người nào đó. Hoạt động xét xử càng có tầm quan 10 z trọng đặc biệt trong bối cảnh đất nước ta đang xây dựng Nhà nước pháp quyền do dân, vì dân. Đồng thời, Đảng và Nhà nước ta đang thực hiện chủ trương cải cách tư pháp, trong đó lấy Tòa án và hoạt động xét xử của tòa là trung tâm, được đặc biệt quan tâm. Chỉ có qua hoạt động xét xử công khai của tòa án, mọi hoạt động của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát (VKS) và Tòa án đều được thể hiện một cách toàn diện, đầy đủ.
Tại đây, những người tham gia tố tụng được công khai tranh tụng, đưa ra lý lẽ để bảo vệ mình hoặc bác bỏ lý lẽ của người khác. Hoạt động xét xử còn góp phần vào công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật và phòng chống tội phạm, đảm bảo trật tự trị an… Hoạt động xét xử sơ thẩm là giai đoạn đặc biệt quan trọng trong tố tụng hình sự. Nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước, xã hội cũng như quyền lợi chính đáng của công dân việc xét xử vụ án hình sự có thể phải trải qua nhiều giai đoạn khác nhau. Thông thường, xét xử sơ thẩm là bắt buộc đối với mọi vụ án hình sự.
Trên cơ sở cáo trạng của VKS chuyển sang, Toà án cấp sơ thẩm lần đầu tiên đưa vụ án ra xem xét công khai tại phiên toà. Trong trường hợp có kháng cáo, kháng nghị, vụ án có thể được đưa ra xét xử phúc thẩm và khi có một số điều kiện nhất định, vụ án có thể được xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm hoặc tái thẩm Theo Từ điển tiếng Việt năm 2004 của Viện Ngôn ngữ học, thủ tục được hiểu là "những việc cụ thể phải làm theo một trình tự quy định để tiến hành một công việc có tính chất chính thức"; tố tụng là việc "tiến hành các hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự"; phiên toà là "lần họp để xét xử của Toà án"; sơ thẩm là "xét xử một vụ án với tư cách là Toà án ở cấp xử thấp nhất" 65. Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam của Khoa Luật, Đại học Quốc gia đưa ra khái niệm: 11 z Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là giai đoạn tiếp theo của quá trình tố tụng hình sự trong đó, Toà án có thẩm quyền, sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, lần đầu tiên đưa vụ án hình sự ra xem xét công khai trước phiên toà nhằm xác định có hay không có tội phạm xảy ra, một người có phải là người phạm tội để từ đó đưa ra bản án, quyết định phù hợp với tính chất của vụ án mà Viện kiểm sát đã truy tố 14. Còn theo cách hiểu của PGS,TS.
Nguyễn Thái Phúc thì: Xét xử sơ thẩm là hoạt động tố tụng thực hiện chức năng xét xử của Toà án dưới hình thức phiên toà xem xét và giải quyết thực chất vụ án hình sự. Xét xử vụ án một cách thực chất có nghĩa là cơ quan Toà án trên cơ sở các chứng cứ được kiểm tra tại phiên toà đưa ra quyết định về các nội dung truy tố bị cáo có căn cứ, hợp pháp hay không, bị cáo có tội hay không, có phải chịu trách nhiệm hình sự hay không?" 34 Tuy có cách thể hiện khác nhau nhưng hai khái niệm trên đều cho thấy sự khác biệt mấu chốt để phân biệt xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm vụ án hình sự. Phiên toà sơ thẩm xét xử vụ án hình sự chỉ được tiến hành sau khi Toà án nhận được bản cáo trạng và hồ sơ vụ án do VKS chuyển sang. Đối tượng của phiên toà sơ thẩm là cáo trạng của VKS truy tố bị cáo vì họ đã thực hiện những hành vi có dấu hiệu tội phạm.
Toà án sơ thẩm có trách nhiệm xem xét cáo buộc của VKS có căn cứ và hợp pháp hay không và thể hiện trong quyết định, bản án của mình. Với phiên toà phúc thẩm, chỉ được tiến hành khi có kháng nghị của VKS hoặc kháng cáo của các bên đối với bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật. Bản án này chính là đối tượng xem xét của phiên toà phúc thẩm chứ không phải là cáo trạng như phiên toà sơ thẩm. Như những nội dung đã nêu trên, có thể khẳng định, xét xử sơ thẩm là trung tâm của tố tụng hình sự.
Vai trò, tầm quan trọng, tính thiêng liêng, tối thượng… của bản án nói chung và bản án sơ thẩm nói riêng sẽ chỉ được đảm 12 z bảo khi hoạt động xét xử phải tuân thủ đúng những thủ tục cụ thể tại phiên tòa xét xử. Tức là việc xét xử của tòa phải tuân theo những nguyên tắc, trình tự… nhất định được quy định trong luật tố tụng hình sự. Việc vi phạm bất kỳ một nguyên tắc hay trình tự quy định nào đều có thể kéo theo những hậu quả đáng tiếc (như phải xem xét lại bản án theo trình tự phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm hay phải hủy bản án, sửa bản án…) và ảnh hưởng tới việc bảo vệ quyền lợi của Nhà nước, của xã hội, quyền và lợi ích chính đáng của công dân. Các nguyên tắc chung khi xét xử vụ án hình sự Như vậy, trước hết, phiên tòa hình sự phải tuân theo những nguyên tắc mà BLTTHS quy định, trong đó có các "nguyên tắc cơ bản" liên quan đến quá trình xét xử tại Tòa án, được quy định tại chương II.
BLTTHS năm 2003 như: Bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong tố tụng hình sự; tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân; bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật; tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân; không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật; xác định sự thật của vụ án; bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; bảo đảm sự vô tư của những người tiến hành tố tụng hoặc tham gia tố tụng; thực hiện chế độ xét xử có Hội thẩm nhân tham gia; thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; Tòa án xét xử tập thể; xét xử công khai; bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án; thực hiện chế độ hai cấp xét xử; bảo đảm hiệu lực của bản án và quyết định của Tòa án; thực hiện quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự; tiếng nói và chữ viết dùng trong tố tụng hình sự… Trong phạm vi này, chúng tôi chỉ đề cập đến một số nguyên tắc cơ bản, có tính đặc trưng của phiên toà sơ thẩm xét xử vụ án hình sự: Nguyên tắc thực hiện chế độ xét xử có hội thẩm tham gia (Điều 15 BLTTHS). 13 z Theo nguyên tắc này, việc xét xử của TAND có Hội thẩm nhân dân, của Toà án quân sự có hội thẩm quân nhân tham gia. Khi xét xử, hội thẩm ngang quyền với thẩm phán. Nguyên tắc này thể hiện tính dân chủ trong chính sách pháp luật của Nhà nước ta.
Nội dung của nguyên tắc này là khi xét xử tại phiên toà, bên cạnh thẩm phán là người có trình độ pháp lý, được bổ nhiệm để thực hiện nhiệm vụ xét xử vụ án còn có hội thẩm nhân dân hoặc hội thẩm quân nhân. Hội thẩm nhân dân, hội thẩm quân nhân là người được bầu hoặc cử tham gia xét xử và có ngang quyền với thẩm phán. Nguyên tắc khi xét xử có hội thẩm nhân dân tham gia không phải là nguyên tắc tố tụng nói chung mà chỉ là nguyên tắc đặc trưng của giai đoạn xét xử và cũng không phải là nguyên tắc bắt buộc đối với tất cả các giai đoạn xét xử mà chỉ bắt buộc đối với giai đoạn xét xử sơ thẩm. Nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật (Điều 16 BLTTHS) Khi xét xử các vụ án hình sự, HĐXX căn cứ vào các tình tiết của vụ án, các chứng cứ đã được thẩm tra công khai tại phiên toà và căn cứ vào các quy định của pháp luật - cụ thể ở đây là bộ luật hình sự và bộ luật tố tụng hình sự để xác định tội phạm và hình phạt đối với người phạm tội.
Không một ai, một cơ quan nào có quyền can thiệp, yêu cầu HĐXX phải làm trái các quy định của pháp luật. Sự độc lập của HĐXX thể hiện ở việc độc lập giữa thẩm phán với hội thẩm trong việc xét xử và độc lập giữa HĐXX với các cơ quan khác.