Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC HÀNH CHÍNH TƢ PHÁP 1. Cơ sở lý luận về TTHC trong lĩnh vực HCTP 1. Khái niệm TTHC trong lĩnh vực HCTP Xuất phát từ quan điểm “quyền lực nhà nước là thống nhất có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp” [46]. Việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp được tiến hành theo những thủ tục khác nhau.
Việc thực hiện quyền lập pháp được tiến hành theo thủ tục lập pháp, việc thực hiện quyền tư pháp theo thủ tục tư pháp (tố tụng), còn việc thực hiện quyền hành pháp do Chính phủ và các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện theo thủ tục hành chính. Trong khoa học Luật hành chính Việt Nam có nhiều quan điểm khác nhau về thủ tục hành chính. Theo quan điểm của PGS.TS Nguyễn Cửu Việt, xuất phát từ luận điểm của C.Mác, thủ tục là hình thức sống của đạo luật, và luật vật chất có hình thức thủ tục riêng của nó, thủ tục ở đây được hiểu là trình tự và cách thức thực hiện những hành động nhất định nhằm đạt tới những hệ quả pháp lý mà phần quy định của quy phạm vật chất dự kiến trước. Từ đó, tác giả quan niệm “TTHC là trình tự và cách thức thực hiện hoạt động hành chính nói chung, hoặc là trình tự và cách thức thực hiện những hoạt động cụ thể trong các ngành và lĩnh vực hoạt động hành chính do luật hành chính quy định” [58].
Phạm Hồng Thái và GS. Đinh Văn Mậu xuất phát từ quan niệm việc thực hiện hoạt động hành chính thực chất là thực hiện thẩm quyền của các cơ quan nhà nước trong lĩnh vực hành chính. Từ đó các tác giả quan niệm: 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com TTHC là trình tự, trật tự thực hiện thẩm quyền của các cơ quan hành chính nhà nước hoặc cá nhân, tổ chức được ủy quyền hành pháp trong việc giải quyết các công việc của công dân, hoặc tổ chức và các kiến nghị, yêu cầu thích đáng của công dân hoặc tổ chức nhằm thi hành nghĩa vụ hành chính, bảo đảm công vụ nhà nước và phục vụ nhân dân [47]. Theo “Giải thích từ ngữ” của Nghị định số 63/2010/NĐ-CP ngày 08 tháng 6 năm 2010 về Kiểm soát TTHC lại có cách hiểu khác về TTHC: “TTHC” là trình tự, cách thức thực hiện, hồ sơ và yêu cầu, điều kiện do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định để giải quyết một công việc cụ thể liên quan đến cá nhân, tổ chức.
“Trình tự thực hiện” là thứ tự các bước tiến hành của đối tượng và cơ quan thực hiện TTHC trong giải quyết một công việc cụ thể cho cá nhân, tổ chức.“Hồ sơ” là những loại giấy tờ mà đối tượng thực hiện thủ tục hành chính cần phải nộp hoặc xuất trình cho các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền giải quyết TTHC trước khi cơ quan thực hiện TTHC giải quyết một công việc cụ thể cho cá nhân, tổ chức. “Yêu cầu, điều kiện” là những đòi hỏi mà đối tượng thực hiện TTHC phải đáp ứng hoặc phải làm khi thực hiện một TTHC cụ thể [21]. Theo cách hiểu này, TTHC giải quyết một công việc cụ thể cho cá nhân, tổ chức, tức là TTHC giải quyết một công việc cá biệt, cụ thể. Tuy nhiên, hạn chế quan niệm này là ở chỗ không được áp dụng trong một số trường hợp quy định tại phạm vi điều chỉnh: TTHC trong nội bộ của từng cơ quan HCNN, giữa cơ quan hành chính nhà nước với nhau không liên quan đến việc giải quyết TTHC cho cá nhân, tổ chức; Thủ tục xử lý vi phạm hành chính; thủ tục thanh tra và TTHC có nội dung bí mật nhà nước và thủ tục xây dựng, ban hành quyết định hành chính quy phạm.
[21] 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Thực chất cách giải thích này chỉ là những quy định của pháp luật là cần phải rà soát những quy định gì liên quan đến TTHC, chứ không phải là định nghĩa khoa học về TTHC. Theo tinh thần, nội dung các văn kiện của Đảng (Nghị quyết đại hội Đảng VII, Nghị quyết trung ương lần thứ 8 khóa VII, Nghị quyết Đại hội Đảng VIII, IX, X) và các văn bản pháp luật (Nghị quyết của Chính phủ số 38/CP ngày 4/5/1994 về cải cách một bước TTHC trong việc giải quyết công việc của công dân và tổ chức, Quyết định số 136/2001/QĐ-TTg ngày 17/9/2001 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2001 - 2010) thì TTHC có nội dung rất rộng, bao gồm: - Số lượng các hoạt động cụ thể, mối liên hệ giữa các hoạt động đó; - Trình tự của các hoạt động cụ thể, mối liên hệ giữa các hoạt động đó; - Nội dung, mục đích của các hoạt động cụ thể; - Cách thức tiến hành, thời hạn tiến hành các hoạt động cụ thể. Đây có thể nói là cách hiểu đầy đủ nhất về TTHC. Cách hiểu này cho phép đánh giá đúng ý nghĩa, vai trò của TTHC trong quản lý nhà nước, tạo điều kiện cho việc tìm hiểu nhu cầu, định ra phương hướng biện pháp thích hợp để cải cách TTHC nhằm xây dựng nền hành chính hiện đại đáp ứng nhu cầu quản lý nhà nước trong điều kiện hiện nay.
Hoạt động nhà nước cần phải tuân theo pháp luật, trong đó có những quy định về trình tự, cách thức sử dụng thẩm quyền của từng cơ quan để giải quyết công việc theo chức năng nhiệm vụ được giao. Khoa học pháp lý gọi đó là những quy phạm thủ tục. Quy phạm này quy định về các loại thủ tục: thủ tục lập pháp, thủ tục tố tụng tư pháp và TTHC. Như vậy, xét trong thể chế của nền hành chính, TTHC là một bộ phận cấu thành tất yếu của thể chế hành chính nói chung.
Đây là một loại quy phạm phản ảnh trình tự thực hiện thẩm quyền trong hoạt động hành chính nhà nước. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com HCNN là hệ thống tổ chức và định chế của quyền hành pháp với các hình thức hoạt động đa dạng và được xác định bằng luật pháp. Quản lý nhà nước trong mọi trường hợp đều nhằm tổ chức và quản lý đời sống xã hội một cách hợp lý và hợp pháp, bảo đảm cho xã hội phát triển theo một trật tự cần thiết, ổn định. Thông qua cơ chế áp dụng quy phạm pháp luật, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đưa ra các quyết định hành chính và thực hiện các hành vi hành chính trực tiếp, liên tục, thường xuyên hàng ngày để giải quyết công việc với lợi ích của nhà nước và của cộng đồng.
Hoạt động đó xảy ra trong từng đơn vị, lãnh thổ hành chính, từng ngành, từng lĩnh vực và có tính bắt buộc theo quy định của pháp luật. Toàn bộ các quy tắc pháp lý quy định về trình tự, trật tự thực hiện thẩm quyền của cơ quan nhà nước trong việc giải quyết nhiệm vụ nhà nước và công việc liên quan đến công dân tạo thành hệ thống quy phạm thủ tục, có tính bắt buộc các cơ quan nhà nước cũng như các công chức nhà nước phải tuôn theo trong quá trình giải quyết công việc thuộc chức năng và thẩm quyền của mình nhằm bảo đảm cho công việc đạt được mục đích đã định, phối hợp với thẩm quyền, chức năng do luật quy định cho các cơ quan trong hoạt động quản lý nhà nước. Bởi vậy, có thể xem thủ tục được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước là trình tự, cách thức thực hiện thẩm quyền của các cơ quan nhà nước (hoặc của các cá nhân, tổ chức được ủy quyền) trong việc thực thi công vụ, trong việc giải quyết các kiến nghị, các yêu cầu của dân và tổ chức. TTHC được điều chỉnh bởi quy phạm pháp luật hành chính, là cơ sở pháp lý cho các cơ quan nhà nước thực hiện chức năng của mình nhằm bảo đảm cho các quy phạm vật chất của luật hành chính được thực hiện có hiệu lực và hiệu quả.
Theo ý nghĩa đó, TTHC tạo điều kiện bảo đảm cho pháp chế được giữ vững, mở rộng dân chủ, công khai trong quản lý nhà nước theo một quy trình được xác định cụ thể. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Xét trong nội bộ của bộ máy hành chính nhà nước, TTHC trước hết là do các cơ quan nhà nước xây dựng và công bố để thực hiện chức năng quản lý của nền HCNN và đòi hỏi các cơ quan HCNN có trách nhiệm thực thi các thủ tục đó. Trong khoa học pháp lý, thuật ngữ “thủ tục” thường được sử dụng ở khía cạnh là trình tự thực hiện quy phạm của luật vật chất (nội dung), là phương tiện đưa luật vật chất vào đời sống xã hội. Theo cách hiểu này của Các Mác, thủ tục là hình thức sống của đạo luật và như vậy, cần phải có pháp luật thủ tục để thực hiện pháp luật vật chất.
Nếu xét theo quan hệ điều hành và căn cứ vào tính chất của chủ thể thực hiện thủ tục, có thể xem TTHC là trình tự về thời gian, không gian và là cách thức giải quyết công việc của cơ quan HCNN trong mối quan hệ với các cơ quan, tổ chức và cá nhân công dân. Nó được đặt ra để các cơ quan nhà nước có thể thực hiện mọi hoạt động cần thiết của mình, trong đó bao gồm cả trình tự thành lập các công sở, trình tự bổ nhiệm, bãi nhiệm, điều động công chức, viên chức, trình tự lập quy, áp dụng quy phạm để bảo đảm các quyền chủ thể và xử lý vi phạm, trình tự điều hành, tổ chức các hoạt động tác nghiệp hành chính. Đây là một kiểu quan hệ có tính biện chứng với nhiều tác động qua lại. Thực tế cho thấy trong quá trình thực hiện TTHC, các bên tham gia với tư cách là chủ thể thủ tục.
Trong quá trình đó, mỗi chủ thể có quyền và nghĩa vụ thực hiện những hành vi nhất định, trong một giai đoạn cụ thể nhất định, nhằm góp phần vào quá trình giải quyết công việc chung. Đồng thời, hành vi của chủ thể tham gia ở giai đoạn trước sẽ là tiền đề cho hành vi ở giai đoạn sau. Từ đó, để giải quyết một công việc cụ thể nhất định, trong nhiều trường hợp cần phải thiết lập những quan hệ pháp luật về thủ tục. Các quan hệ về thủ tục có thể liên quan đến từng giai đoạn cụ thể của quá trình giải quyết công việc của từng cơ quan.
Những quan hệ như vậy đều được thực hiện theo thứ tự mà luật pháp quy định. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.