Lời mở đầu, điều 6 và 7), Hiệp định về các biện pháp kiểm dịch động thực vật (SPS) (trong điều 10 và điều 24), Hiệp định về các hàng rào kỹ thuật đối với thương mại (TBT) (trong điều 11 và điều 24), Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại 16 của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS) (điều 7.6), Hiệp định về giám định hàng hoá trước khi gửi hàng (PSI). Theo quy định của TFA, quy định của các hiệp định này, tuỳ từng mức độ cụ thể, có thể được áp dụng một cách trực tiếp, hoặc gián tiếp, hoặc có thể bị hạn chế trong từng trường hợp cụ thể. Áp dụng trực tiếp các hiệp định WTO Ngay trong lời nói đầu, TFA trực tiếp nhắc đến các điều khoản trong GATT thể hiện ở mục tiêu “làm rõ và hoàn thiện những điểm liên quan tại Điều V; VIII; và X của Hiệp định GATT 1994 nhằm thúc đẩy hơn nữa việc di chuyển, giải phóng và thông quan hàng hoá bao gồm cả hàng quá cảnh”. So sánh nội dung TFA và các quy định của GATT Các Điều trong TFA Phạm vi Các điều trong GATT Điều 1 đến 5 Minh bạch Điều X Điều 6 đến 10 Phí và thủ tục Điều VIII Điều 11 Quá cảnh Điều V Điều 12 và 13 Các vấn đề khác Nguồn: Người viết tự tổng hợp Bảng 1.
Các biện pháp kỹ thuật tạo thuận lợi thương mại trong nội dung TFA •Điều 1: Công bố và tính sẵn có của thông tin Các điều về •Điều 2: Cơ hội góp ý, thông tin trước khi có hiệu lực và tham vấn minh bạch •Điều 3: Quy định về xác định trước •Điều 4: Các thủ tục Khiếu nại và Khiếu kiện •Điều 5: Các biện pháp khác nhằm nâng cao tính công bằng, không phân biệt đối xử và minh bạc Các điều về phí •Điều 6: Quy định về phí và lệ phí của hoặc liên quan đến nhập khẩu và thủ tục và xuất khẩu và xử phạt •Điều 7: Giải phóng và thông quan hàng hóa •Điều 8: Hợp tác giữa các cơ quan quản lý biên giới •Điều 9: Vận chuyển hàng hóa chịu sự kiểm soát về hải quan đối với hàng nhập khẩu •Điều 10: Thủ tục liên quan đến nhập khẩu, xuất khẩu và quá cảnh Điều 11 Tự do quá cảnh Điều 12 Hợp tác hải quan Nguồn: Người viết tự tổng hợp 17 Như vậy, các tiền lệ về giải thích và áp dụng các điều khoản này của GATT có thể được áp dụng cho việc giải thích và áp dụng các điều khoản liên quan trong TFA. Mặc dù vậy, TFA là Hiệp định ra đời sau với những quy định chi tiết và cụ thể hơn về tạo thuận lợi thương mại và các vấn đề tuân thủ hải quan, do vậy các điều khoản của TFA cũng có sự phát triển thêm so với các quy định trong GATT. So sánh việc giải thích và áp dụng Điều X GATT và Điều 5 TFA, đều quy định về việc quản lý các biện pháp mà quốc gia thành viên áp dụng có tác động tới thương mại quốc tế, sẽ làm rõ vấn đề này. Nếu điều X GATT chỉ nói chung chung tới việc quản lý các biện pháp (luật, quy định, quyết định) tác động tới thương mại thì Điều 5.1 TFA cụ thể hơn khi quy định rõ “các phương thức ban hành, hủy bỏ hoặc đình chỉ” các biện pháp này.1 (c) còn đi xa hơn khi yêu cầu các thành viên nhanh chóng chấm dứt hoặc thu hồi thông báo hoặc hướng dẫn nếu các tình huống dẫn đến thông báo không còn tồn tại, hoặc đã thay đổi có thể được giải quyết theo cách ít hạn chế thương mại hơn.
Đến nay, người ta chưa nhìn thấy khả năng có sự mâu thuẫn giữa các điều khoản trong GATT và TFA. Tuy nhiên, xem xét nhiều điều khoản của TFA cho thấy những nhà soạn thảo Hiệp định mong muốn duy trì quan hệ hài hòa giữa TFA và GATT cũng như các Hiệp định chuyên biệt khác. Áp dụng gián tiếp quy định trong các hiệp định WTO Quy định trong các hiệp định WTO cũng có thể được áp dụng một cách gián tiếp dù không được quy định một cách cụ thể trong các điều khoản của TFA. Cụ thể, Điều 10-8.1 TFA quy định hàng hoá xuất trình cho nhập khẩu có thể bị cơ quan có thẩm quyền của Thành viên từ chối nếu hàng hoá không đáp ứng được các quy định về vệ sinh và kiểm dịch động thực vật hoặc quy chuẩn kỹ thuật.
Dù không trực tiếp nhắc đến Hiệp định SPS hay TBT, nhưng để không tạo thêm những trở ngại không cần thiết đối với thương mại hoặc một hạn chế thương mại trá hình phù hợp với tinh thần của WTO, điểu khoản này nên được áp dụng cùng với các quy định liên quan của hai hiệp định này. Tương tự Điều 7.6 TFA quy định các điều khoản này không ảnh hưởng đến quyền của một Thành viên đối với kiểm tra, bắt giữ, giữ, tịch thu hoặc xử lý hàng hoá dưới bất cứ hình thức nào sao cho không trái với các quyền và nghĩa vụ của các nước 18 thảnh viên. Quy định này có thể được áp dụng cùng với quy định tại Điều 57 Hiệp định TRIPS theo đó các nước Thành viên phải cho phép các cơ quan chức năng có thẩm quyền dành cơ hội cho chủ thể quyền được yêu cầu tiến hành kiểm tra bất kỳ hàng hoá nào bị cơ quan hải quan thu giữ vì các lý do về sở hữu trí tuệ. Ngược lại, một số quy định của TFA có thể đặt thêm nghĩa vụ cho các thành viên so với các nghĩa vụ trong Hiệp định khác của WTO.
Chẳng hạn, Liên quan tới Hiệp định SPS, Ban thư ký WTO đă liệt kê danh sách các điều khoản TFA có khả năng vượt ra ngoài các quy định của SPS, hay còn gọi là các điều khoản SPS cộng (SPS plus). Trong trường hợp này, giải pháp có lẽ sẽ là áp dụng đồng thời hai hiệp định. Mối quan hệ giữa TFA và các hiệp định thương mại tự do của Việt Nam Hiện nay, Việt Nam đã và đang là thành viên của 12 Hiệp định thương mại tự do, trong đó có 6 Hiệp định trong khuôn khổ ASEAN. Trong đó, một số các Hiệp định có chứa các điều khoản về tạo thuận lợi thương mại.
Ví dụ, Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Nhật Bản quy định các bên phải hợp tác và trao đổi thông tin với nhau trong phạm vi các thủ tục hải quan, bao gồm việc thi hành chống buôn lậu hàng hóa bị cấm và chống xuất nhập khẩu hàng hóa bị nghi ngờ vi phạm sở hữu trí tuệ. Một số Hiệp định FTA của ASEAN cũng chứa các điều khoản tạo thuận lợi thương mại như Hiệp định ASEAN – Hàn Quốc công nhận tầm quan trọng của hợp tác giữa các chính quyền về các vấn đề về hải quan. Hiệp định ASEAN – Nhật Bản có các điều khoản về thủ tục hải quan và khuyến khích các bên nỗ lực hợp tác hoặc ASEAN - Úc - New Zealand dành hẳn chương 4 (thủ tục hải quan) để tạo thuận lợi thương mại với mục tiêu đảm bảo minh bạch, hợp tác và đơn giản hóa các thủ tục hải quan, thông qua một loạt các biện pháp như lập hệ thống tự động hóa (điều 5), điểm hỏi đáp (điều 11), quyết định sớm (điều X), quản lý rủi ro (điều 9), quy trình rà soát và kháng cáo (điều 17),. Đáng lưu ý nhất là Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) và Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) mà Việt Nam đã hoàn tất việc ký kết lần lượt vào cuối năm 2015 và đầu năm 2016.
Cả hai hiệp định này đều dành hẳn một chương riêng cho các quy định về tạo thuận lợi thương mại (Chương 5). Về cơ bản các nghĩa vụ tạo thuận lợi thương mại trong hai Hiệp định tự do này đều tương đồng với các nghĩa vụ trong TFA, mặc dù lời văn có khác biệt. 19 Từ góc độ nội dung, có thể nói các cam kết về hải quan và tạo thuận lợi thương mại trong EVFTA gần như được thiết kế dựa trên và tương tự với các quy định của Hiệp định về Tạo thuận lợi thương mại của WTO (TFA). Hơn nữa, trong khi EVFTA chỉ bao gồm các cam kết khá chung chung, không ràng buộc cách thức hay chi tiết thực hiện thì TFA lại chứa rất nhiều các quy định rất chi tiết, với các đòi hỏi chặt chẽ về nhiều vấn đề (đặc biệt là các vấn đề thuộc nhóm thủ tục hải quan cụ thể).
Tuy nhiên, về hiệu lực pháp lý, trong khi TFA không buộc các nước thành viên về thời điểm phải thực thi các quy định (mỗi nước thành viên WTO có quyền tự xác định thời hạn thực hiện các nghĩa vụ trong TFA, bao gồm nhóm A - cam kết thực hiện ngay, nhóm B – cam kết thực hiện theo lộ trình và nhóm C – chỉ thực hiện khi bối cảnh thực tiễn đã đủ điều kiện để thực hiện; và đăng ký với WTO) thì các cam kết trong EVFTA về hải quan là bắt buộc thực hiện ngay khi EVFTA bắt đầu có hiệu lực (chỉ trừ 01 trường hợp cho phép bảo lưu). Về phần mình, các quy định về tạo thuận lợi thương mại trong TPP nêu một số yêu cầu chi tiết và cụ thể hơn so với TFA như việc ấn định các thời hạn cụ thể. Chẳng hạn điều 5.3 khoản 2 Hiệp định TPP yêu cầu mỗi bên phải đưa ra quyết định sớm càng nhanh càng tốt và không được muộn hơn 150 ngày sau khi nhận được yêu cầu; điều 5.10 khoản 2(a) Hiệp định TPP yêu cầu mỗi bên phải áp dụng hoặc duy trì các thủ tục quy định việc giải phóng hàng hoá trong vòng 48 giờ kể từ khi hàng đến. Mặt khác, TPP lại không bao gồm những quy định về đối xử đặc biệt cho các quốc gia đang phát triển là thành viên của Hiệp định, trong khi đó TFA dành hẳn Phần II để đưa ra những quy định linh hoạt hơn cho nhóm các nước thành viên đang phát triển trong việc thực thi hiệp định này theo các phương thức và thời hạn khác nhau tùy thuộc vào nhu cầu của họ.
Như vậy, khi TFA có hiệu lực, Việt Nam đồng thời sẽ phải thực hiện nghĩa vụ trong TFA và các điều khoản về thuận lợi thương mại trong các hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam là thành viên. Trong trường hợp cần giải thích và áp dụng điều khoản, chúng ta sẽ phải lựa chọn cách giải thích và tiếp cận sao cho các Hiệp định thương mại tự do đều có nghĩa.