Chương I : Vai trò cua tiền tệ, tài chính. được xuất đi hoặc nhập vào, nếu không rơi vào hệ thống tiền tệ, thì cũng vào tay công chúng hoặc bên nước ngoài, và như vậy đã có quan hệ gián tiếp đến quyết định mở rộng hay thu hẹp đầu tư. Những giao dịch quốc tế về vàng và trái phiếu có ảnh hưởng đến giá cả của trái phiếu, ngoại tệ và lãi suất cả ở trong nước và nước ngoài. Nếu khối lượng tiền tệ trong một nước được chính sách tiền tệ duy trì ở mức tương đối ổn định thì việc xuất khẩu tư bản có tác dụng nâng cao mức lợi tức của tiền tệ (tức là gia tăng hiệu suất sử dụng vốn trong quá trình cạnh tranh với hoạt động đầu tư nội địa) và giảm bớt các khoản dự trữ bất động của hệ thống ngân hàng.
Trong quan hệ nhiều tỷ giá luôn có sự chênh lệch nhất định giữa giá cả của các đồng tiền khác nhau và sự chênh lệch giá vàng giữa các thị trường, cho nên làm cho một quốc gia nếu vừa xuất khẩu, đồng thời vừa nhập khẩu tư bản mà vẫn có lợi. Kinh tế học hiện đại lấy số thu cận biên của việc dự trữ ngoại tệ mạnh làm cơ sở cho chính sách xuất nhập khẩu tư bản. Xuất khẩu tư bản tạo ra áp lực đẩy lãi suất trong nước lên cao, làm giảm độ nóng của khu vực kinh tế trong nước mà vẫn giữ được mức độ đầu tư, cũng như gia tăng tổng số lợi nhuận. Ngược lại, nhập khẩu tư bản sẽ làm giảm lãi suất quốc nội và kích thích các hoạt động đầu tư ở trong nước.
Mậu dịch quốc tế tạo ra cơ hội cho chuyên môn hoá sản xuất. Nguyên lý lợi thế sánh tương đối đã làm rõ điều này ở mỗi quốc gia thuộc mọi loại trình độ phát triển. Tuy nhiên, trên thực tế, mậu dịch quốc tế còn là một phương thức để làm giảm những hậu quả do lạm phát hoặc giảm phát mang lại. Ở một vài khía cạnh, lạm phát tuy kích thích xuất khẩu nhưng không khuyến khích đầu tư.
Nếu chỉ xuất khẩu mà không nhập khẩu, đến một lúc nào đó các nguồn tài nguyên sẽ hoàn toàn cạn kiệt. Sự giảm sút đầu tư gây ra mức thiếu hụt tương đối về nhiều loại sản phẩm và xuất hiện khoảng trống tạo điều kiện cho nhập khẩu tăng lên. Theo kênh tài chính tiền tệ, xuất khẩu tăng cũng làm cho lãi suất trong nước tăng. Lãi suất tăng thì ngoài hạn chế đầu tư cũng có tác dụng kiểm chế lạm phát.
Xét về lâu dài, 15 ChươngI : Vai trò của tiền tệ, tài chính. không thể có mức thặng dư mậu dịch mãi mãi, cho nên khả năng tốt nhất cho một nền kinh tế là giữ cán cân thanh toán quốc tế ở mức độ thăng bằng, trong khi tốc độ tăng trưởng thực tế của nền kinh tế luôn luôn dương. Để duy trì một cán cân thanh toán quốc tế tương đối thăng bằng, tức là sự thâm hụt cũng như thang dư thương mai là tương đối nhỏ tính theo tylé % của GDP, còn phải lệ thuộc vào bốn nhân tố. Nhân tố thứ nhất là các điều kiện thanh toán.
Đây là loại nhân tố liên quan trực tiếp đến chính sách ngoại thương, chính sách phân bổ tiết kiệm và đầu tư, chính sách dự trữ, tiếp nhận viện trợ và đầu tư của nước ngoài. Sự di chuyển của khối tiền tệ nước ngoài và vàng cũng làm dịch chuyển cán cân thanh toán theo các chiều hướng khác nhau, bởi vì hình thức này tác động đến hoạt động kinh tế không khác gì các biện pháp của chính sách tiền tệ. Nhân tố thứ hai là điều kiện về lợi tức. Điều kiện này lại phụ thuộc trực tiếp vào tình hình ổn định của tiền tệ.
Nếu như lạm phát kéo dài và không thể dự đoán thì không chỉ ngừng trệ đầu tư trong nước mà còn đình trệ cả đầu tư nước ngoài do các khoản lợi tức không được bao dam. Đầu tu trong nước giảm kéo theo sự hạn chế về khả năng xuất khẩu. Sự phá giá - tương đối của nội tệ chỉ khuyến khích nhập khẩu các hàng hoá phục vụ cho tiêu dùng. Ngoài ra, hậu quả cũng trở nên khôn lường do nền kinh tế ngày càng bị lệ thuộc vào các ngoại tệ mạnh.
Nhân tố thứ ba là điều kiện về sự ổn định theo tỷ lệ cố định giữa khu vực nội địa và khu vực phục vụ xuất khẩu. Khi điều kiện này đạt được thì tại mỗi quốc gia, nền sản xuất được phân chia theo tỷ lệ tương đối ổn định giữa hai khu vực, khiến cho các nhà đầu tư không có ý muốn chuyển các nguồn lực của mình từ khu vực này sang khu vực khác. Có hai biện pháp để đạt được điều kiện, một là biện pháp hành chính quản lý bằng hạn ngạch, hai là biện pháp kinh tế giữ tỷ suất lợi tức bằng nhau ở cả hai khu vực phục vụ 16 Chươ ngI : Va t tr o cu a ti ền tệ , tà i ch ín h. quốc nội và phục vụ xuất khẩu.
Nếu điều kiện không được thoả mãn thì trư ớc tiê n ảnh hưở ng đến khả năn g thu hút đầu tư nướ c ngo ài, tiế p the o là ảnh hưởng đến lợi tức thu được hàng năm của đất nước. Thật vậy, nếu có tình trạng xuống cấp của các ngành kỹ thuật tạo ra sản phẩm xuất khẩu hay có sự thay đổi mức cầu nhập khẩu theo chiều hướng tăng lên thì cán cân thanh toán sẽ chuyển dịch về phía thâm hụt, và đấy không phải là môi trường đầu tư hấp dẫn. Lợi tức thu được của quốc gia chỉ có triển vọng sáng sủa khi xuất khẩu vẫn được đẩy mạnh trong khi mức cầu về sản phẩm nhập khẩu phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng ngày càng có khuynh hướng giảm xuống. Kinh tế học hiện đại gọi sự thay đổi trong đầu tư nước ngoài gây ra bởi yếu tố vừa nêu là "những thay đổi có tính chất cơ cấu".
Nhân tố thứ tư đảm bảo cho sự thăng bằng của cán cân thanh toán quốc tế là điều kiện về chính sách. Cụ thể ở đây là những chính sách mà chính phủ ban hành để hạn chế dân chúng hoạt động thương mại ở những nơi có mức giá cả hấp dẫn nhất. Nói cách khác, đó là các biện pháp trợ giá sản phẩm để tránh những khoảng trống thiếu hụt sản phẩm cho lĩnh vực kinh doanh mang lại ít lợi nhuận. Đó cũng là sự cần trở các luồng tư bản di chuyển ra nước ngoài làm cho lãi suất trong nước chênh lệch khá lớn so với lãi suất quốc tế.
Nếu chính sách đi ngược lại những yêu cầu đã đặt ra trong điều kiện, thì mức thăng bằng cán cân thanh toán chỉ có tính chất tạm thời, và thậm chí nguy hại hơn là sẽ gây ra sự lệch lạc trong quá trình phân bổ các nguồn tài nguyên của nền kinh tế. Bốn nhân tố trên đây dựa trên cách đánh giá có tính chất toàn diện. Tuy không phải là mục tiêu của một chính sách, nhưng chúng cũng có dáng dấp của các đơn vị do lường, nhằm thẩm định khả năng tốt xấu về thể trạng của cán cân thanh toán quốc tế. Chúng là cơ sở để phân loại những biện pháp tốt nhất trong quá trình điều chỉnh cán cân thanh toán quốc tế của một ree Wee ee.
| ChươngI : Vai trò của tiền tệ, tài chính. Tỷ giá hối đoái. Nội dung cơ bản của tỷ giá hối đoái là tỷ lệ xác định giá trị một đơn vị tiền tệ của một nước tính bằng một lượng ngoại tệ mà nó có thể mua dược. Về mặt bản chất, tỷ giá hối đoái là một loại giá đặc biệt, chứa đựng các thông tin và các yếu tố mang tính định hướng cho các quyết định nên sản xuất và tiêu dùng như thế nào.
Điều hết sức đáng lưu ý là tỷ giá hối đoái có thể xác định giá cả tương đối của các mặt hàng có thể trao đổi được cũng như không trao đổi được. Như vậy, những sự thay đổi về mặt cơ cấu của tổng cầu và tổng tổng cung không thể loại trừ những tác động nhiều chiều của tỷ giá hối đoái. | Trong hệ thống các công cụ, chính sách thuộc về tài chính-tiền tệ của chính phủ thì tỷ giá hối đoái là một trong những công cụ có tiềm năng lớn nhất, xét trên phương diện tác động của nó về lâu dài. Cho nên, không phải vô cớ mà Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và Ngân hàng thế giới (WB) đặt chính sách tỷ giá giữ vị trí trung tâm trong các chương trình điều chỉnh cơ cấu ở các nước phát triển và đang phát triển.
Là loại giá cả đặc biệt, tỷ giá hối đoái tác động lên nhiều loại giá cả khác, ảnh hưởng đến lợi ích của các tầng lớp dân cư , kết nối mặt bằng giá cả của một nền kinh tế với giá cả của các nền kinh tế khác, do đó, có thể xem tỷ giá hối đoái là loại giá có ý nghĩa nhất trong mỗi nền kinh tế. Tuy nhiên, việc sử dụng tỷ giá hối đoái như một thứ công cụ để điều tiết các hoạt động kinh tế không hoàn toàn đơn giản. Hầu hết các biện pháp điều chỉnh ty giá hối đoái tại các nước đang phát triển đều nhất trí điều chỉnh theo hướng giảm tỷ giá hối đoái, tức là giảm giá trị đồng nội tệ so với các đồng tiền mạnh. Điều này gây ra những tác động nhiều mặt, và chính vì 18 ChươngI : Vai tro cua tiền tệ, tài chính.
lẽ đó mà nền kinh tế đò i hỏi ph ải có mộ t tỷ giá hố i do ái có tín h lin h ho ạt cao. Viễ n cản h ảm đạ m do quy ết địn h phá giá đồn g nội tệ ở các nướ c dan g phá t triể n khô ng phả i nga y một lúc có thể nhậ n ra. Chỉ đến khi các cuộ c khủng hoảng tài chính liên tiếp nổ ra và tự bản thân các nền kinh tế này không thể chống đỡ nổi, mà phải dựa vào các tổ chức tài chính quốc tế thì các nhà hoạch định chính sách mới có điều kiện để suy ngẫm về các quyết định của mình. Một vài phân tích tiếp theo dưới đây sẽ phần nào củng cố thêm nhận định đó.
Thứ nhất, sự giảm giá tương đối của đồng tiền nội địa so với các ngoại tệ mạnh không giúp gì nhiều cho sự gia tăng của nền sản xuất trong nước, mặt khác cũng không làm giảm đáng kể mức tiêu thụ sản phẩm trên thị trường nội địa.