Chương 1 Cơ sở lý luận về hoàn thiện pháp luật trong quản lý nhà nước về hải quan đối với doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu ở Việt Nam 1. Doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu và pháp luật trong quản lý nhà nước về hải quan đối với doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu 1. Doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu Theo Luật Doanh nghiệp sửa đổi, bổ sung (năm 2003), doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật, nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Cũng theo Luật này hoạt động kinh doanh được hiểu là "việc thực hiện một, một số hoặc toàn bộ các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm trên thị trường, thực hiện các dịch vụ nhằm mục đích sinh lợi" [23].
Điều 4, Điều 14 của Luật quy định trình tự thành lập doanh nghiệp và đăng ký kinh doanh; các Điều 9, Điều 10 quy định quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp, trong đó tại khoản 5 Điều 9 quy định doanh nghiệp có quyền kinh doanh xuất khẩu và nhập khẩu. Như vậy, doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu theo Luật Doanh nghiệp sửa đổi, bổ sung (năm 2003) là đối tượng áp dụng của Luật Doanh nghiệp, được tổ chức theo các loại hình kinh doanh mà Luật quy định (doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty Cổ phần, Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên), có các quyền và nghĩa vụ như các doanh nghiệp khác. Phù hợp với yêu cầu của kinh tế thị trường, Luật Doanh nghiệp đã quy định một khuôn khổ pháp lý thuận lợi cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp dù thuộc bất kỳ thành phần nào, dù kinh doanh theo loại hình tổ chức kinh doanh nào, quy mô và ngành nghề kinh doanh cho dù khác nhau ra sao song cũng đều bình đẳng với nhau trong kinh doanh, đều có các quyền tự do kinh doanh, tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong kinh doanh, có quyền tự do sở hữu không hạn chế về quy mô và được nhà nước bảo hộ, không quốc hữu hóa [23].
Bên cạnh những đặc điểm phổ biến trên, doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu có những đặc trưng riêng, thể hiện đậm nét ở hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu của doanh nghiệp. Hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu ở đây được hiểu là việc doanh nghiệp thực hiện trao đổi hàng hóa dịch vụ với các doanh nghiệp thuộc các quốc gia khác theo các hợp đồng kinh tế và hiệp định ký kết, phù hợp với tập quán thương mại và pháp luật của từng quốc gia. Sự trao đổi hàng hóa này là biểu hiện của mối quan hệ kinh tế - xã hội giữa những người sản xuất hàng hóa riêng biệt ở mỗi nước trên thị trường thương mại thế giới [24]. Như vậy, hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu có đối tượng là hàng hóa, là hoạt động buôn bán hàng hóa ở phạm vi quốc tế, cũng không phải là hoạt động riêng lẻ mà là cả một hệ thống các quan hệ mua bán trong một nền thương mại có tổ chức nhằm mục đích đẩy mạnh sản xuất hàng hóa, chuyển đổi cơ cấu kinh tế, ổn định và nâng cao đời sống nhân dân.
Điều đó có nghĩa hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu mà hiệu quả của nó không chỉ quyết định sự sống còn của doanh nghiệp, mà còn ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của quốc gia khác và quốc tế. Có thể thấy rõ điều này qua vai trò của nó. - Về xuất khẩu, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có vai trò: + Xuất khẩu mang lại nguồn thu nhập ngoại tệ quan trọng cho các nước nói chung và nước ta nói riêng, góp phần đáng kể trong việc cải thiện cán cân ngoại thương và cán cân thanh toán, tăng dự trữ ngoại hối, đẩy mạnh việc nhập khẩu máy móc, thiết bị công nghệ tiên tiến và nhiên liệu cho phát triển công nghiệp. + Xuất khẩu cho phép nước ta phát huy được lợi thế so sánh của mình, sử dụng có hiệu quả nguồn lao động và tài nguyên thiên nhiên phong phú trong chính sách "hướng về xuất khẩu" [2].
+ Cùng với sự gia tăng của xuất khẩu, nền kinh tế sẽ phát triển mạnh mẽ trong lĩnh vực sản xuất chế tạo hàng hóa cho xuất khẩu từ đó thu hút được một lượng lớn người lao động, đồng thời do yêu cầu khắt khe của thị trường quốc tế về chất lượng, mẫu mã, chủng loại. của hàng hóa nên tay nghề của người lao động sẽ được nâng cao, tạo ra đội ngũ lao động lành nghề cho nền kinh tế. Đây là một tiền đề quan trọng giúp cho việc chuyển về chất từ cơ cấu nông, công nghiệp sang cơ cấu công, nông nghiệp. + Tăng cường xuất khẩu sẽ thúc đẩy đổi mới công nghệ, trang bị các loại máy móc thiết bị hiện đại hơn để có thể cung cấp ngày càng nhiều các loại sản phẩm hàng hóa dịch vụ có chất lượng ngày càng cao, đáp ứng được nhu cầu khắt khe và điều kiện cạnh tranh gay gắt của thị trường quốc tế.
+ Xuất khẩu đóng vai trò quyết định trong việc tăng cường sự hợp tác phân công lao động và chuyên môn hóa quốc tế, đưa nền kinh tế nước ta hòa nhập vào sự phát triển chung của kinh tế khu vực và thế giới, trở thành một mắt xích quan trọng trong quá trình phân công lao động quốc tế, từ đó góp phần nâng cao uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, phù hợp với bối cảnh toàn cầu hóa của kinh tế thế giới hiện nay. - Về nhập khẩu, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có vai trò: + Nhập khẩu tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất kinh doanh thương mại, thực hiện việc cung cấp 60% đến 90% nguyên nhiên, vật liệu sản xuất trong nước. + Nhập khẩu tác động mạnh đến việc đổi mới trang thiết bị và công nghệ sản xuất nhờ đó mà công nghệ sản xuất được nâng cao và năng suất lao động tăng nhanh. Trong giai đoạn hiện nay của nền kinh tế đất nước, để đảm bảo phát triển kinh tế với tốc độ nhanh thì nhu cầu về nhập khẩu cũng gia tăng, nhất là máy móc thiết bị và công nghệ mới, nguyên vật liệu mà trong nước chưa thể sản xuất được hoặc không thể đáp ứng được đầy đủ.
+ Nhập khẩu làm cho thị trường hàng hóa trong nước dồi dào, phong phú hơn, giải quyết được tình trạng khan hiếm hàng hóa trên thị trường, điều hòa quan hệ cung cầu, tạo môi trường cạnh tranh kích thích người sản xuất trong nước phải cải tiến, hoàn thiện chất lượng, mẫu mã, bao bì của sản phẩm đáp ứng được nhu cầu cao của người tiêu dùng, sau đó là xuất khẩu sản phẩm. Tóm lại, hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu của doanh nghiệp đóng vai trò hết sức to lớn và cần thiết, làm cho nền kinh tế nước ta gắn liền, hòa nhập với nền kinh tế thế giới, không chỉ mang lại lợi ích kinh tế cho đất nước, tránh nguy cơ tụt hậu so với các nước trong khu vực và trên thế giới mà còn tạo ra lợi thế về chính trị, kinh tế, xã hội cho đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Do vai trò quan trọng trên của hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu nên việc tổ chức và hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu của doanh nghiệp hết sức quan trọng và có nội dung hết sức phức tạp, không như hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp kinh doanh trong nước. Đó là hoạt động bao gồm nhiều khâu có quan hệ chặt chẽ với nhau, quy định lẫn nhau và cùng quy định hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, gồm khâu nghiên cứu tiếp cận thị trường trong và ngoài nước để lựa chọn được mặt hàng xuất nhập khẩu, cũng như đối tác kinh doanh, tiến hành giao dịch ký kết hợp đồng và cuối cùng là hoàn thành các thủ tục thanh toán và thanh lý hợp đồng.
Các hoạt động đó có thể khái quát như sau: Một là: Nghiên cứu thị trường. Nguyên tắc hoạt động thương mại là bán những gì mà thị trường cần chứ không phải bán những gì mà người bán có. Chính vì thế trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu Doanh nghiệp phải tiến hành nghiên cứu thị trường để biết được những thông tin cần thiết về thị trường như khách hàng, hàng hóa, đối thủ cạnh tranh và các yếu tố trong mỗi luồng thông tin đó nhằm phục vụ cho việc ra quyết định về hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu của doanh nghiệp được đúng đắn. Nghiên cứu thị trường gồm nhiều công việc khác nhau, mỗi công việc có tính phức tạp riêng, có mục đích và yêu cầu riêng, mức độ đạt được các yêu cầu đó trực tiếp chi phối hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, trước hết là để lựa chọn ra mặt hàng kinh doanh thích hợp mang lại hiệu quả lớn nhất, nắm được mặt hàng mà thị trường đang cần; nắm được tình hình tiêu thụ hiện tại của các mặt hàng; xác định được thời gian và tình trạng mà sản phẩm đang tồn tại và tình hình sản xuất các mặt hàng, như tình hình cung cấp mặt hàng mà doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu định xuất khẩu hoặc nhập khẩu.
Muốn vậy doanh nghiệp phải làm rõ được khả năng sản xuất, tập quán sản xuất, thời vụ sản xuất, tốc độ phát triển sản xuất, mức độ tiến bộ khoa học kỹ thuật của sản xuất. để có cơ sở đảm bảo cho việc thu mua hàng hóa và có được nguồn hàng ổn định cho xuất khẩu và nhập khẩu. Hai là: Nghiên cứu xác định rõ cụ thể thị trường trong và ngoài nước, nhằm trả lời câu hỏi xuất khẩu cái gì, nhập khẩu mặt hàng nào, nhu cầu của thị trường hàng hóa đó ra sao, sự biến động của thị trường hàng hóa đó như thế nào, ai là bạn hàng, phương thức giao dịch như thế nào.