Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của cải cách ngành bưu chính viễn thông của các nước trên thế giới. Chương 2: Quá trình quá trình cải cách ngành bưu chính viễn thông của một số nước trên thế giới. Chương 3: Ngành bưu chính viễn thông Việt Nam trong quá trình cải cách. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA CẢI CÁCH NGÀNH BƢU CHÍNH VIỄN THÔNG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA CẢI CÁCH BƢU CHÍNH VIỄN THÔNG 1.Một số khái niệm cơ bản về cải cách bƣu chính viễn thông 1. Độc quyền trong lĩnh vực BCVT Trong những năm trước thập kỷ 80, một số quốc gia coi độc quyền trong lĩnh vực BCVT như là một tất yếu. Nhà nước nắm độc quyền đối với Ngành BCVT như là một hạ tầng cơ sở quan trọng để thực hiện các chính sách công của mình. Tuy nhiên, bắt đầu từ giữa thập kỷ 80, đặc biệt là từ nửa cuối những năm 1980 tình hình bắt đầu có sự thay đổi.
Phạm vi độc quyền của BCVT đang ngày càng thu hẹp. Thị trường BCVT xuất hiện ngày càng nhiều các nhà khai thác. Trong hoạt động bưu chính, vấn đề độc quyền ít hơn và vẫn đang bị bỏ ngỏ. Các dịch vụ độc quyền mà theo thuật ngữ mới của UPU được gọi là các dịch vụ “dành riêng”, chiếm từ 50-80% của tổng lưu lượng bưu chính, phụ thuộc vào từng nước, và doanh thu từ những dịch vụ này vào khoảng từ 40% tới 85%.
Ở hầu hết các nước, luật hiện hành vẫn tạo thuận lợi cho hình thức này như là một công cụ cần thiết cho dịch vụ chất lượng cao trên toàn lãnh thổ. Phi điều tiết Phi điều tiết (hay nới lỏng điều tiết) là quá trình giảm bớt quy định của Nhà nước đối với Ngành Bưu Chính Viễn Thông nhằm hạn chế sự độc quyền trong Ngành kinh tế này. Thông thường thì Nhà nước không muốn từ bỏ quyền lực và khả năng tham gia của mình vào tất cả vấn đề kinh doanh của một ngành kinh tế quan trọng như Bưu Chính Viễn Thông. Ngoài ra, bản thân Ngành Bưu Chính Viễn Thông cũng không dễ dàng chấp nhận những thiệt hại đến vị trí độc quyền của mình.
Tuy nhiên, do sức ép của thị trường đã đến lúc buộc Nhà nước phải hoạt động với tư cách là một chủ sở hữu và điều hành chứ không phải đơn thuần chỉ là người cung cấp lợi ích công cộng cho xã hội với bất cứ giá nào qua hệ thống Bưu Chính Viễn Thông công cộng. Về cơ bản thì quá trình phi điều tiết không có nghĩa là xoá bỏ hoàn toàn những luật lệ điều tiết. Ngược lại, nó nhằm 1 đặt ra một hệ thống qui định mới có ảnh hưởng tích cực đến sự cạnh tranh trên thị trường. Sự tự do hoá thị trường Bưu Chính Viễn Thông đòi hỏi những qui định có vai trò kép: sắp xếp thị trường và hỗ trợ cho phát triển mở rộng thị trường, tạo ra một không gian đủ tự do cho thị trường năng động.
Trong nhiều năm, ở hầu hết các nước Luật cơ bản về Bưu Chính Viễn Thông là khung pháp lý duy nhất để quản lý lĩnh vực này trong trong suốt thời gian độc quyền. Sự chuyển đổi thị trường yêu cầu những điều luật đóng vai trò như một chất xúc tác quan trọng trong việc thực hiện cải cách Ngành Bưu Chính Viễn Thông cũng như chiến lược phát triển. Vì thế trong giai đoạn cải cách Ngành Bưu Chính Viễn Thông cần chú trọng đặc biệt đến Cơ quan quản lý Nhà nước trong lĩnh vực Bưu Chính Viễn Thông. Thiết lập được một Cơ quan quản lý Bưu Chính Viễn Thông mạnh chính là mục tiêu đầu tiên cần đạt được trong quá trình cải cách.
Một trận đấu bóng hay cần phải có một người trọng tài cầm chịch giỏi và công minh. Tự do hoá Nói chung tự do hoá trong một thị trường mở nghĩa là tự do cung cấp cho thị trường các thiết bị và dịch vụ mới, cũng như việc cải tiến nâng cao dịch vụ, thiết bị hiện có. Tự do hoá là quá trình hướng tới người sử dụng, mục đích chính là đáp ứng nhu cầu của công chúng nhờ nâng cao hiệu quả điều hành, nâng cao chất lượng dịch vụ và thiết bị. Cam kết về tự do hoá thị trường Viễn Thông trong Hiệp định của WTO về các dịch vụ Viễn Thông cơ bản là một cột mốc quan trọng của quá trình mở cửa thị trường Viễn Thông thế giới.
Theo hiệp định này, 69 nước đã cam kết tự do hoá thị trường Viễn Thông của mình; 59 nước cam kết cho phép cạnh tranh đối với các nhà khai thác mạng thoại công cộng (cho phép từ 2 nhà khai thác mạng trở lên) trên các đoạn thị trường khác nhau (nội hạt, đường dài hay quốc tế); 42 nước cam kết cho phép các nhà bán lại dịch vụ điện thoại công cộng. Những bước tự do hoá đầu tiên trong lĩnh vực viễn thông đã được tiến hành tại Mỹ sau một cuộc tranh luận về pháp lý lâu dài và tốn kém, trong đó những người ủng hộ tư nhân hoá đã chiến thắng. Sau Mỹ là Vương quốc Anh, Nhật Bản và các nước trong cộng đồng chung Châu Âu. Tự do hoá đã trở thành một quá trình toàn cầu bao gồm các nước không phụ thuộc vào hệ thống chính trị, mức độ phát triển hệ thống Bưu Chính Viễn Thông và mức sống quốc gia.
Công ty hoá Bưu Chính Viễn Thông Công ty hoá (Corporatization) là quá trình trao cho Cơ quan Bưu Chính, Viễn Thông nhà nước một địa vị pháp lý độc lập như các doanh nghiệp tư nhân khác. Công ty hoá sẽ trao quyền tự chủ cho Cơ quan Bưu Chính, Viễn Thông nhà nước, giúp cho nó năng động, tự chủ trong môi trường cạnh tranh. Như vậy công ty hoá sẽ tách riêng quyền sở hữu của nhà nước và trách nhiệm quản lý, tránh sự can thiệp sâu của chính phủ vào hoạt động kinh doanh. Công ty hoá là bước đi quan trọng trong quá trình cải cách Bưu chính, Viễn thông.
Hầu hết các Cơ quan Bưu chính, Viễn thông của các nước đều thực hiện bước đi này, và tiến tới giai đoạn thương mại hoá. Thương mại hoá Bưu Chính Viễn Thông Thương mại hoá (Commercialization) là quá trình đưa các nguyên tắc thị trường áp dụng vào Cơ quan Bưu chính, Viễn thông nhà nước. Do vậy, các chức năng quan trọng trong một doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trường như tài chính, kế toán, kế hoạch chiến lược, nguồn nhân lực, marketing… phải được bổ sung, tăng cường. Thương mại hoá chính là chuyển sang tư duy hướng về khách hàng, coi thị trường là yếu tố sống còn đối với doanh nghiệp.
Tư duy đó đòi hỏi doanh nghiệp phải quan tâm đến nguồn nhân lực - khách hàng bên trong, phải phối hợp tất cả các nguồn lực bên trong nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh để đáp ứng nhu cầu thị trường tốt hơn so với các đối thủ cạnh tranh. Công ty hoá tạo cơ sở pháp lý, quyền tự chủ cho cơ quan Bưu chính, Viễn thông. Thương mại hoá trang bị các công cụ quản lý quan trọng cho cơ quan Bưu chính, Viễn thông hoạt động trong môi trường kinh tế thị trường cạnh tranh. Quá trình thương mại hoá không thể thực hiện được nếu Cơ quan Bưu chính, Viễn thông thiếu quyền tự chủ, trách nhiệm và động lực khuyến khích do quá trình Công ty hoá đem lại.
Ngược lại chỉ riêng Công ty hoá cũng không mang lại kết quả cải cách. Như vậy cả hai quá trình Công ty hoá và Thương mại hoá đều không thể thiếu được cho quá trình cải cách thành công. Thường thì “Công ty hoá” được thực hiện trước, sau đó là quá trình “Thương mại hoá”. Tuy nhiên một số Cơ quan Bưu chính, Viễn thông các nước lại thực hiện Thương mại hoá trước rồi sau đó mới thực hiện Công ty hoá.
Quá trình Công ty hoá và Thương mại hoá cơ quan Bưu Chính, Viễn Thông nhà nước được gọi là quá trình cải cách doanh nghiệp (Enterprise reform). Tư nhân hoá Bưu Chính Viễn Thông Tư nhân hoá có nghĩa là bán một phần hay toàn bộ Công ty Bưu Chính Viễn Thông sở hữu Nhà nước. Tư nhân hoá và tự do hoá là hai khái niệm độc lập, có thể tồn tại cái này mà không cần cái kia. Tuy nhiên có khuynh hướng cho rằng 2 khái niệm này đi đôi với nhau.
Tư nhân hoá được xem như một phương pháp được sử dụng để huy động nguồn tài chính cho phát triển Viễn thông. Tư nhân hoá các Công ty Bưu Chính, Viễn Thông Nhà nước được tiến hành thông qua việc tư nhân hoá các dịch vụ hoặc bán tài sản của các công ty Nhà nước. Ở hầu hết các nước OECD, tư nhân hoá dịch vụ Viễn thông và một phần dịch vụ Bưu chính đã được tiến hành, trong khi ở các nước đang phát triển chỉ một phần công ty Viễn thông nhà nước được đem ra bán. Công chúng rất quan tâm mua cổ phần của các công ty Viễn thông vì họ hy vọng thu được lợi nhuận cao do tốc độ tăng trưởng của Ngành viễn thông.
Ngoài hình thức tư nhân hoá dịch vụ và bán tài sản, các hình thức tham gia của khu vực tư nhân không có quan hệ sở hữu dài hạn đã được sử dụng rộng rãi qua hợp đồng thuê hay hợp đồng quản lý (nhằm thu hút đầu tư nước ngoài hay bí quyết kỹ thuật), hợp đồng chuyển nhượng và hình thức đồng sở hữu. Sự cần thiết phải cải cách ngành bƣu chính viễn thông Xét về lịch sử, sự phát triển của Viễn thông gắn liền với Bưu chính kể từ khi các phương tiện truyền tin mới là điện thoại và điện báo được đưa vào kinh doanh. Thông qua mạng lưới đã được thiết lập, Bưu chính triển khai các hình thức thông tin mới này. Vì vậy, sự phát triển Viễn thông có thể được tiến hành trong doanh nghiệp Bưu chính độc quyền, được Nhà nước bảo hộ.
Mặt khác, chi phí xây dựng mạng Viễn thông cao. Do vậy, việc thực hiện hoạt động mang lại ích lợi to lớn cho xã hội này được Nhà nước đảm nhận cung cấp và được coi là độc quyền tự nhiên. Cơ cấu tổ chức dưới dạng một doanh nghiệp nhà nước thực hiện chung các hoạt động Bưu chính và Viễn thông, chỉ khác nhau không nhiều lắm giữa các nước, và kết quả kinh doanh của toàn bộ ngành Bưu Chính Viễn Thông là tích cực. Điều này tạo ra ấn tượng là Ngành này hoạt động tốt, và do vậy làm chậm trễ những đổi mới trong Ngành Bưu Chính Viễn Thông ở các nước.
1 Sự phát triển kinh tế, xã hội nhanh chóng dựa trên các thành tựu công nghệ thông tin đã dẫn đến sự xâm nhập của công nghệ thông tin vào các quá trình sản xuất và hội nhập kinh tế toàn cầu.