Chương 1 CHỦ TRƯƠNG VÀ SỰ CHỈ ĐẠO THỰC HIỆN CỦA ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG VỀ CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH TỪ NĂM 1996 ĐẾN NĂM 2000 1. Chủ trương của Đảng về cải cách hành chính (1996 - 2000) 1. Hoàn cảnh lịch sử và yêu cầu về cải cách nền hành chính nhà nước Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược, cả nước độc lập, thống nhất và tiến lên CNXH. Bước vào thời kỳ này, công cuộc xây dựng CNXH trên phạm vi cả nước có nhiều thuận lợi cơ bản, song cũng gặp không ít khó khăn, phức tạp.
Nhiều vấn đề không lường trước đã xảy ra ở cả trong nước và trên phạm vi toàn thế giới, ảnh hưởng rất lớn đến tiến trình đi lên của cách mạng nước ta. Về thuận lợi cơ bản là: Khí thế cách mạng của nhân dân, của dân tộc vừa chiến thắng hăng hái bước vào công cuộc xây dựng CNXH với một niềm tin mãnh liệt trên tinh thần tự lập, tự cường, quan hệ quốc tế bước đầu mở rộng, tạo điều kiện tiếp thu những thành tựu khoa học - kỹ thuật tiên tiến trên thế giới. Về khó khăn: Nền kinh tế nước ta chủ yếu là sản xuất nhỏ, kỹ thuật lạc hậu, năng suất lao động thấp, lại bị chiến tranh tàn phá nặng nề. Nguồn viện trợ giảm đi rõ rệt.
Các thế lực thù địch cấm vận, bao vây kinh tế cản trở công cuộc xây dựng đất nước của nhân dân ta. Thêm vào đó, chúng ta vừa ra khỏi chiến tranh, lại phải đương đầu với hai cuộc chiến tranh diễn ra ở biên giới phía Bắc và phía Tây Nam. Trong quan hệ quốc tế, đây là thời kỳ chúng ta gặp nhiều khó khăn phức tạp, không có lợi cho cách mạng, các nước XHCN 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com anh em lâm vào tình trạng khủng hoảng toàn diện. Các thế lực thù địch tập trung chống phá các nước CNXH, trong đó có Việt Nam.
Nền hành chính nhà nước trong thời gian trước đổi mới theo đánh giá của Đại hội lần thứ VI của Đảng (12/1986) thì bộ máy nhà nước còn quá cồng kềnh và kém hiệu quả. Các cơ quan nhà nước ở trung ương có tới 34 bộ, cơ quan ngang bộ và 40 cơ quan thuộc Chính phủ. Cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp là nguyên nhân trực tiếp làm cho bộ máy nặng nề, nhiều tầng, nhiều nấc [18, tr. Nhược điểm lớn nhất của Nhà nước giai đoạn này là chậm đổi mới tổ chức bộ máy và phương thức lãnh đạo rập khuôn như thời chiến tranh, hạn chế khả năng thực hiện chức năng, nhiệm vụ.
Lý luận của Đảng về xây dựng nhà nước lạc hậu, chưa theo kịp đà chuyển biến của thực tiễn. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (12/1986) khởi xướng công cuộc đổi mới toàn diện đất nước, lấy trọng tâm là đổi mới kinh tế. Để thực hiện tốt công cuộc đổi mới này, về mặt nhà nước, Nghị quyết Đại hội chỉ rõ, cần phải “tiến hành một cuộc cải cách lớn các cơ quan của bộ máy Nhà nước” theo phương hướng “Xây dựng và thực hiện một cơ chế quản lý nhà nước thể hiện quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động ở tất cả các cấp. Tăng cường bộ máy Nhà nước từ Trung ương đến địa phương và cơ sở thành một thể thống nhất, có sự phân định rành mạch nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm từng cấp theo nguyên tắc tập trung dân chủ, phân biệt chức năng quản lý hành chính - kinh tế với quản lý sản xuất - kinh doanh, kết hợp quản lý theo ngành với quản lý theo địa phương và vùng lãnh thổ, phù hợp với đặc điểm tình hình kinh tế, xã hội” [18, tr.
Thực hiện Nghị quyết Đại hội VI, tổ chức bộ máy nhà nước đã được sắp xếp lại một bước theo hướng gọn nhẹ, bớt đầu mối. Tuy nhiên, nhìn chung tổ chức và biên chế của bộ máy nhà nước vẫn còn cồng kềnh, nặng nề. 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (6/1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH đã thể hiện bước tiến nhận thức của Đảng về nền hành chính nhà nước. Để thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh theo con đường XHCN, Cương lĩnh khẳng định phải xây dựng Nhà nước “có đủ quyền lực và có đủ khả năng định ra luật pháp về tổ chức, quản lý mọi mặt đời sống xã hội bằng pháp luật.
Sửa đổi hệ thống tổ chức nhà nước, cải cách bộ máy hành chính, kiện toàn các cơ quan lập pháp để thực hiện có hiệu quả chức năng quản lý của Nhà nước” [18, tr. Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000 nêu trọng tâm cải cách là “nhằm vào hệ thống hành chính với nội dung chính là xây dựng một hệ thống hành chính và quản lý hành chính nhà nước thông suốt, có đủ quyền lực, năng lực, hiệu quả” [18, tr. Sau Đại hội Đảng lần thứ VII (6/1991), Hội nghị Ban chấp hành Trung ương 8, Khoá VII (tháng 1/1995) đánh dấu bước phát triển mới về xây dựng và phát triển nền hành chính nhà nước. Lần đầu tiên thuật ngữ cải cách nền hành chính được sử dụng chính thức trong văn kiện của Đảng và cũng lần đầu tiên cả 3 nội dung chủ yếu của CCHC đã được trình bày có hệ thống trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8, đó là cải cách thể chế hành chính, chấn chỉnh tổ chức bộ máy và xây dựng đội ngũ CBCC.
Những quan điểm, chủ trương của Đảng về CCHC qua Đại hội lần thứ VI và lần thứ VII đã góp phần thúc đẩy công cuộc đổi mới đất nước. Dân chủ về kinh tế được tăng cường. Dân chủ về chính trị được mở rộng. Tổ chức bộ máy nhà nước từ trung ương đến địa phương, cơ sở đã được đổi mới, hoàn thiện theo hướng tinh gọn, hiệu quả hơn và gần dân hơn… Nhờ đó, tạo sự ổn định chính trị - xã hội, tiền đề quan trọng để nước ta bước sang thời kỳ mới của sự phát triển, thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Tuy nhiên, cũng phải thừa nhận rằng, nền hành chính nhà nước do được xây dựng và phát triển trong điều kiện nước ta vốn là một nước nông 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nghiệp lạc hậu, chịu ảnh hưởng sâu đậm hàng trăm năm đô hộ của chủ nghĩa thực dân cũ và mới sau đó là hàng chục năm vận hành theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp, nên nền hành chính đó đã tồn tại nhiều yếu kém, ảnh hưởng đến bản chất dân chủ XHCN của Nhà nước ta, làm giảm hiệu quả thực hiện các chức năng, nhiệm vụ và việc phát huy bản chất của một nhà nước của dân, do dân, vì dân. Từ việc kiểm điểm tình hình và rút kinh nghiệm thực tiễn, Đảng ta khẳng định, trong điều kiện một đảng cầm quyền, sự đổi mới chưa đồng bộ các tổ chức trong hệ thống chính trị là trở ngại lớn của công cuộc CCHC trong thời gian qua. Tình hình trên đặt ra yêu cầu cấp thiết phải xây dựng, kiện toàn bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh có hiệu lực và hiệu quả, bài trừ quan liêu, giữ vững và phát huy bản chất cách mạng của một nhà nước của dân, do dân, vì dân. Chủ trương của Đảng về cải cách hành chính (1996 - 2000) Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (6/1996) đã nghiêm túc nhận định về thực trạng yếu kém, bất cập làm cản trở sự phát triển của đất nước.
Đó là chưa có nhiều kinh nghiệm trong quản lý nền kinh tế khi chuyển đổi sang cơ chế thị trường; tổ chức bộ máy Nhà nước vẫn còn bất hợp lý; nền hành chính ở nhiều khâu vẫn chưa thích ứng với nền kinh tế thị trường; năng lực CBCC chưa thực sự tương xứng với yêu cầu của xã hội, của tiến trình hội nhập… Vì thế, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VIII xác định “tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam”. Trong đó, “Cải cách nền hành chính nhà nước là trọng tâm của việc xây dựng, hoàn thiện nhà nước trong những năm trước mắt, công cuộc CCHC phải dựa trên cơ sở pháp luật và tiến hành đồng bộ trên các mặt: cải cách thể chế hành chính, tổ chức bộ máy và xây dựng, kiện toàn đội ngũ CBCC hành chính” [12, tr. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Về cải cách thể chế hành chính: Thực hiện cải cách cơ bản các thủ tục hành chính, cả về thể chế và tổ chức thực hiện; loại bỏ những khâu bất hợp lý, phiền hà, ngăn chặn tệ cửa quyền, tham nhũng, hối lộ, vi phạm pháp luật. - Về tổ chức bộ máy: Chấn chỉnh cơ cấu tổ chức, biên chế, quy chế hoạt động của bộ máy hành chính các cấp.
Làm cho bộ máy tinh gọn, đảm bảo sự điều hành tập trung, thống nhất, thông suốt, có hiệu lực từ Chính phủ đến chính quyền địa phương, cơ sở, đồng thời phát huy tính chủ động, năng động của địa phương, cơ sở. Xác định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của mỗi cấp chính quyền địa phương. Kiện toàn bộ máy chính quyền cấp huyện và cơ sở để đủ sức quản lý, giải quyết kịp thời, đúng thẩm quyền những vấn đề cuộc sống đặt ra và nhân dân đòi hỏi. - Về đội ngũ CBCC hành chính: Xây dựng và ban hành văn bản pháp quy về chế độ công vụ và công chức.
Định rõ nghĩa vụ, trách nhiệm, thẩm quyền, quyền lợi và kỷ luật công chức hành chính. Quy định các chế độ đào tạo, tuyển dụng, sử dụng công chức. Xây dựng đội ngũ CBCC nhà nước vừa có trình độ chuyên môn và kỹ năng nghề nghiệp cao vừa giác ngộ về chính trị, có tinh thần trách nhiệm, tận tụy, công tâm, vừa có đạo đức liêm khiết khi thừa hành công vụ. Đại hội VIII xác định mục tiêu của CCHC là nhằm xây dựng một nền hành chính trong sạch, có đủ năng lực, sử dụng đúng quyền lực và từng bước hiện đại hoá để quản lý có hiệu lực và hiệu quả công việc của Nhà nước, thúc đẩy xã hội phát triển lành mạnh, đúng hướng, phục vụ đắc lực đời sống nhân dân, xây dựng nếp sống và làm việc theo pháp luật.