MỞ ĐẦU Axit phytic (myo-inositol hexakisphosphate) là dạng phospho dự trữ chủ yếu của thực vật. Axit phytic có thể chiếm 65 – 80% lƣợng phospho trong các loại ngũ cốc, hạt các cây họ đậu và họ cải. Ngoài chức năng dự trữ phospho, axit phytic còn liên kết chặt chẽ với các nguyên tố khoáng nhƣ Ca, Mg, Fe, Zn. Axit phytic có tính chất kháng tiêu hóa do khả năng liên kết với các protein, enzyme trong dịch tiêu hóa của động vật.
Enzyme phytase (myo-inositol-1,2,3,4,5,6-hexakisphosphate phospho- hydrolase) có vai trò quan trọng trong chăn nuôi. Phytase xúc tác cho phản ứng thủy phân axit phytic thành những gốc phospho đơn vô cơ và các dẫn xuất đơn giản của myo-inositol. Do vậy, khi bổ sung vào thức ăn chăn nuôi, phytase không chỉ có tác dụng làm tăng khả năng hấp thu phospho, các nguyên tố khoáng mà còn cải thiện khả năng tiêu hóa các hợp chất khác, đồng thời làm giảm lƣợng phospho thải ra ngoài, góp phần bảo vệ môi trƣờng. Phytase thƣơng phẩm hiện nay đƣợc sản xuất chủ yếu dựa trên nguồn gen từ nấm mốc Aspergillus niger.
niger có một số ƣu điểm nhƣ hoạt động ở pH thấp, phù hợp với môi trƣờng axit của dịch dạ dày, có tính đặc hiệu cơ chất với phytate cao, và bền với tác động của pepsin. niger có nhƣợc điểm là kém bền nhiệt. Trong công đoạn ép viên, thức ăn chăn nuôi thƣờng đƣợc gia nhiệt tới 70-80°C để diệt Salmonella. Chính vì vậy, enzyme bổ sung vào thức ăn chăn nuôi phải đáp ứng yêu cầu về độ bền nhiệt.
Để đáp ứng yêu cầu kỹ thuật ngày càng cao, enzyme công nghiệp thƣờng đƣợc cải biến theo hƣớng thay đổi cấu trúc nội tại. Một số nghiên cứu cấu trúc của phytase bền nhiệt từ A. fumigatus cho thấy liên kết hydro và tƣơng tác ion trong cấu trúc không gian có vai trò đảm bảo khả năng “đàn hồi” nhiệt của enzyme. niger không có những liên kết này nên dễ dàng bị bất hoạt và không có khả năng hồi tính.
Việc cải biến trình tự axit amin của phytase có thể gia tăng tính “đàn hồi” nhiệt của enzyme. Một trong những hƣớng nghiên cứu đƣợc thực hiện tại Trung tâm Vi sinh vật Công nghiệp, Viện Công nghiệp Thực phẩm là khai thác nguồn gen thiên nhiên Việt Nam nhằm tạo enzyme tái tổ hợp phục vụ ứng dụng trong chăn nuôi. Với phytase, đã có 24 gen từ các loài khác nhau thuộc chi Aspergillus đƣợc tách dòng và nghiên K21-Sinh học thực nghiệm 1 Đặng Thị Kim Anh TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn thạc sĩ cứu. Trong số đó, phytase từ A.
niger đƣợc tách dòng và biểu hiện trên Pichia pastoris. Giống nhƣ các phytase tự nhiên khác từ A. niger, enzyme thu nhận đƣợc chƣa đảm bảo đƣợc tính bền nhiệt nhƣ mong muốn. Vì vậy, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài nghiên cứu: “Cải biến gen mã hóa enzyme phytase từ nấm mốc Aspergillus niger nhằm tăng khả năng hồi tính của phytase sau khi bị biến tính ở nhiệt độ cao” nhằm cải thiện đặc tính công nghệ của enzyme tái tổ hợp.
Để đạt đƣợc mục tiêu trên, gen mã hóa phytase từ nấm mốc A. niger đƣợc biến đổi bằng Mega-PCR tạo 4 axit amin mới thay thế cho 4 axit amin trong cấu trúc protein nhằm tăng độ bền vững đồng thời duy trì các đặc tính cơ bản về hoạt tính và pH hoạt động của enzyme. K21-Sinh học thực nghiệm 2 Đặng Thị Kim Anh TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn thạc sĩ Chƣơng 1 – TỔNG QUAN 1. Axit phytic và phytate Axit phytic lần đầu tiên đƣợc Hartig tìm thấy năm 1855 ở dạng hạt nhỏ trong hạt giống của một số loài thực vật và có kích thƣớc tƣơng đƣơng hạt tinh bột khoai tây.
Khi kiểm tra bằng phƣơng pháp thử iod, Hartig nhận thấy các hạt này không phải là tinh bột và chứa chất dinh dƣỡng dự trữ cho sự nảy mầm của hạt [27, 28]. Sau Hartig, cũng đã có nhiều nhà nghiên cứu tìm thấy hạt phytic và khẳng định thành phần hóa học chính của nó là carbon, phospho và các ion kim loại và không phải protein hay lipid. Chúng có tên là „phytin‟ do nguồn gốc từ thực vật và không đƣợc phát hiện thấy ở thịt hay trong các sản phẩm từ sữa. Winterstein, Schulze và Posternak đã chỉ ra rằng thủy phân phytin bằng axit sẽ giải phóng axit phosphoric và inositol [66].
Năm 1914, Anderson đã mô tả cấu trúc phân tử của myo-inositol - 1, 2, 3, 4, 5, 6 – hexakis dihydrogen phosphate, đƣợc gọi là axit phytic [7] (Hình1. Cấu trúc phân tử của myo-inositol - 1, 2, 3, 4, 5, 6 - hexakisdihydrogen phosphate (axit phytic). Phytate là muối của axit phytic là dạng dự trữ phospho và khoáng chất chủ yếu của thực vật đặc biệt ở ngũ cốc, cây họ đậu và các loại hạt có dầu. Chúng chiếm khoảng 75% tổng lƣợng phospho của hạt và thấp hơn ở các bộ phận khác của cây nhƣ rễ, củ, chồi, với hàm lƣợng chỉ khoảng 0.
Trong quá trình nảy mầm của hạt, phytate bị thủy phân tạo phospho vô cơ cùng với khoáng chất nhƣ canxi, magiê là những chất cảm ứng cho quá trình nảy mầm và phát triển của cây con. Điều này giải thích cho vai trò quan trọng của phytate trong quá trình chuyển hóa của thực vật. K21-Sinh học thực nghiệm 3 Đặng Thị Kim Anh TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn thạc sĩ Với động vật, axit phytic có hiệu ứng kháng dinh dƣỡng rất mạnh nhờ khả năng liên kết chặt chẽ với các phân tử protein và các nguyên tố kim loại nhƣ Ca2+, Mg2+, Zn2+. Những liên kết này tạo phức hợp không hòa tan trong đƣờng tiêu hóa, dẫn đến ức chế khả năng hấp thụ khoáng của động vật [17, 47].
Trong số các kim loại, kẽm là nguyên tố vi lƣợng mà hoạt tính sinh học của nó bị ảnh hƣởng lớn nhất bởi axit phytic. Axit phytic bổ sung vào thức ăn có thể làm giảm mạnh khả năng hấp thụ ion Zn2+ và giảm trọng lƣợng của chuột [48]. Axit phytic còn tƣơng tác với protein trong dải pH rộng để tạo thành phức hợp phytate-protein. Liên kết giữa protein thực vật với axit phytic làm giảm độ hòa tan, giảm khả năng bị phân cắt của protein và do vậy làm giảm giá trị dinh dƣỡng của chúng.
Hơn nữa, ngoài liên kết với muối khoáng, protein, axit phytic còn tƣơng tác với các enzyme tiêu hoá nhƣ trypsin, pepsin, α-amylase và β-galactosidase, làm giảm hoạt tính của những enzyme này [20, 32, 55]. Enzyme phân giải phytate (phytase) Phytase (myo-inositol-1,2,3,4,5,6-hexakisphosphate phosphohydrolase) xúc tác phản ứng thủy phân myo-inositol-1,2,3,4,5,6-hexakisphosphate (phytate) thành những gốc phosphate đơn vô cơ và những dẫn xuất đơn giản hơn của myo-inositol phosphate. Ở một số loài nấm, phytase có thể giải phóng myo-inositol tự do. Phân loại enzyme phytase Ủy ban danh pháp enzyme thuộc Hiệp hội Hóa sinh Quốc tế (The Enzyme Nomenclature Committee of the International Union of Biochemistry) phân loại phytase thành ba dạng bao gồm [75]: Dạng 1: EC 3.8 Tên đề xuất: 3-phytase Tên phân loại: myo-inositol-hexakisphosphate-3-phosphohydrolase Tên khác: phytase, phytate-1-phosphatase, phytate-3-phosphatase, phytate-6-phosphatase Dạng 2: EC 3.26 Tên đề xuất: 4-phytase Tên phân loại: myo-inositol-hexakisphosphate-4-phosphohydrolase K21-Sinh học thực nghiệm 4 Đặng Thị Kim Anh TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn thạc sĩ Tên khác: phytase, 6-phytase, phytate-6-phosphatase Dạng 3: EC 3.72 Tên đề xuất: 5-phytase Tên phân loại: myo-inositol-hexakisphosphate-5-phosphohydrolase Tên khác: phytase; phytate-5-phosphatase Sự phân loại này dựa trên cơ sở vị trí nhóm phosphate đầu tiên bị phytase tấn công.
Enzyme 3-phytase (EC 3.8) tấn công vào nhóm phosphate ở vị trí thứ 3 và 4-phytase (EC 3.26) tấn công đầu tiên vào nhóm phosphate số 4; đây là hai dạng phytase điển hình của vi sinh vật. Enzyme 5-phytase (EC 3.72) tấn công đầu tiên vào nhóm phosphate số 5; đây là dạng điển hình cho phytase từ thực vật. Cấu trúc protein của 4 nhóm enzyme phytase: β-Propellar Phytase (BPPhy), Protein tyrosine phytase (PTPhy), Purple Phosphatase Acid (PAPhy) và Histidine Acid Phosphatase (HAPhy) [67]. Theo tính năng và cấu trúc, ngƣời ta còn chia phytase ra 4 nhóm nhƣ sau: (1) β- Propellar Phytase (BPPhy): hoạt động ở pH kiềm và cần ion Ca2+ cho khả năng xúc tác và bền nhiệt, sản phẩm cuối cùng là myo-inositol triphosphate (IP3); (2) Protein tyrosine phytase (PTPhy): hoạt động ở pH axit, chứa nhóm xúc tác cysteine, sản phẩm cuối cùng là inositol 2-monophosphate; (3) Purple Phosphatase Acid (PAPhy): chứa axit amin có gắn kim loại Fe2+ và Fe3+, Zn2+, Mg2+ hoặc Mn2+ ở trung tâm hoạt động, cơ chế xúc tác của enzyme này vẫn chƣa đƣợc làm sáng tỏ; (4) Histidine Acid Phosphatase (HAPhy): hoạt động ở pH thấp, chứa trình tự axit amin bảo thủ: RH[GN]xRx[PAS] ở đầu N và HD ở đầu C (Hình 1.
Các nhóm này khác nhau về cấu trúc phân và cơ chế xúc tác cho phép chúng sử dụng axit phytic làm K21-Sinh học thực nghiệm 5 Đặng Thị Kim Anh TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn thạc sĩ nguồn cơ chất trong các môi trƣờng khác nhau. Trong đó, phytase của Aspergillus niger và Aspergillus fumigatus thuộc nhóm Histidine Acid Phosphatase đƣợc nghiên cứu rộng rãi nhất. Nguồn phytase Phytase rất phổ biến trong tự nhiên, nó đã đƣợc tìm thấy từ vi sinh vật, thực vật và động vật. Phytase từ vi sinh vật Hoạt tính phytase từ vi sinh vật thƣờng thấy nhất ở nấm mốc, đặc biệt ở các loài thuộc chi Aspergillus.
Shieh và Ware (1968) đã phân lập và tuyển chọn từ đất hơn 2000 chủng vi sinh vật để sản xuất phytase. Hầu hết các chủng sản sinh phytase nội bào, chỉ có 30 chủng sinh phytase ngoại bào và chúng đều là nấm sợi, trong đó 28 chủng thuộc chi Aspergillus, 1 chủng thuộc chi Penicillum và 1 chủng thuộc Mucor. Trong 28 chủng của chi Aspergillus sản sinh phytase, có 21 chủng thuộc về loài A. Những nhóm nghiên cứu khác nhƣ Howson và Davis (1983), Volfova và cs (1994) đã khẳng định rằng A.
niger là loài có khả năng sản sinh phytase ngoại bào tốt nhất [31, 65]. Một số phytase từ một số nấm men khác đã đƣợc phát hiện nhƣ: Pichia anomala [64], Saccharomyces cerevisiae [59]. Phytase cũng đã đƣợc tìm thấy trong các nhóm vi khuẩn nhƣ: Aerobacter aerogenes, Pseudomonas sp., Bacillus subtilis, Klebsiella sp. Những vi khuẩn sinh phytase ngoại bào là những chủng thuộc về chi Bacillus và Enterobacter còn phytase từ E.
coli lại là enzyme nội bào. Năm 2005, Cheng và CS đã mô tả cấu trúc phytase dạng β ở loài ƣa lạnh Shewanella oneidensis MR-1 nó có 30% peptide tƣơng đồng với trình tự phytase của Bacillus sp. Đặc biệt, với khả năng hoạt động ở nhiệt độ thấp phytase này có tiềm năng ứng dụng trong nuôi trồng thủy sản, khi nhiệt độ thƣờng thấp hơn 30°C [12]. Phytase từ thực vật Phytase đƣợc tìm thấy rộng rãi trong giới thực vật.
Phytase từ phấn hoa lily hoạt động ở pH tối ƣu 8,0 và nhiệt độ tối ƣu 55 C [34].