Chương 1: TRẦN DẦN TRONG BỐI CẢNH THI CA NỬA CUỐI THẾ KỶ XX 1. Bối cảnh thi ca Việt Nam những năm nửa cuối thế kỷ XX Việc chủ nghĩa tƣ bản thâm nhập vào Việt Nam và ngƣời Pháp đẩy mạnh khai thác thuộc địa sau Chiến tranh thế giới thứ nhất đã vô tình đẩy nhanh làn gió văn hóa phƣơng Tây vào Việt Nam. Giới trí thức trẻ nhanh chóng tiếp thu văn hóa Pháp và nhận ra vần luật, niêm luật của thi ca Nho gia đã không còn phù hợp nữa. Đó là căn nguyên dẫn đến một cuộc vận động đổi mới thơ ca diễn ra mạnh mẽ vào đầu thập niên 1930 với sự xuất hiện làn sóng thơ mới mẻ có cá tính sáng tạo độc đáo.
Cuộc cách tân này đi vào lịch sử văn học với tên gọi: Phong trào Thơ mới. Quá trình hình thành, phát triển của phong trào Thơ mới 1932 – 1945 là sự tổng hòa của nhiều yếu tố và đã làm nên một cuộc cách mạng trong thơ ca Việt Nam. Nó đã làm thay đổi một cách hệ thống quan niệm về thơ, về cá nhân, về cái tôi tự biểu hiện, hệ thống đề tài… khi thơ theo lối cũ không còn đủ sức chuyển tải nội dung tâm hồn của con ngƣời trong xã hội đang Âu hóa một cách mạnh mẽ. Phát triển đến những năm đầu thập kỷ bốn mƣơi, Thơ mới đạt đƣợc những kết quả rực rỡ và thực hiện sứ mệnh hoàn tất quá trình hiện đại hóa thơ Việt.
Đến đây, Thơ mới đã không còn mới nữa và, nói theo cách nói của Lê Tràng Kiều, là “đi vào khuôn phép”, để rồi sau đó đi vào khủng hoảng cao độ khi Thế Lữ lu mờ trƣớc Xuân Diệu, Xuân Diệu nhƣờng chỗ cho bộ ba Trƣờng thơ loạn với các đại biểu là Hàn Mặc Tử, Bích Khê và Chế Lan Viên. Cũng từ đây, Thơ mới đã có những cuộc tìm tòi mới nhằm thỏa mãn khát 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com vọng nghệ thuật của từng nhóm nghệ sĩ, trong đó nổi lên nhóm Xuân Thu nhã tập ra đời vào năm 1942 với các tên tuổi nhƣ, Phạm Văn Hạnh, Nguyễn Xuân Sanh, Đoàn Phú Tứ. Trƣớc hết, có thể nhận thấy Xuân Thu nhã tập là sự phản ứng lại những “cơn mƣa trữ tình” trong nguyên tắc mĩ học của các nhà Thơ mới lãng mạn đi trƣớc, mà vào thời điểm bấy giờ, đã bị khai thác đến cạn kiệt, trở nên xơ cứng, mòn sáo. Đi cùng sự phủ định ấy là một nỗ lực lớn trong việc xác lập nên hệ thống quan niệm thẩm mỹ mới.
Vì vậy, Xuân Thu nhã tập đƣợc xem nhƣ sự tìm tòi nối dài và liên tục của phong trào Thơ mới. Nhƣng thời điểm xuất hiện của Xuân Thu nhã tập là lúc tình hình lịch sử – xã hội có nhiều biến động dữ dội, không cho phép thử nghiệm của họ tiếp tục đi xa hơn. Khi Thơ mới đang quẩn quanh, bế tắc trong nhiều thể nghiệm nghệ thuật thì cách mạng tháng Tám nổ ra, đem đến cho dân tộc và văn nghệ luồng sinh khí mới, nhƣ Nguyễn Đình Thi từng nói: “Nhịp sống của chúng ta, từ sau Cách mạng đập lên nhiều phen dữ dội đến bàng hoàng, đồng thời mở rộng ào ạt… Nhịp điệu cũ, theo tôi không còn đủ cho thơ của chúng ta. Nhiều nhà thơ đang đập vỡ để xây dựng, thơ tìm tòi trăm nghìn phía nhƣng lúc nào cũng là một sức đang lớn lên nhƣ thổi” [17, 15].
Cách mạng tháng Tám là một tác động xã hội mạnh mẽ, làm chuyển mạch hiện đại hóa thơ Việt khi nó mới chớm bƣớc sang “đƣờng cong siêu thực” của nhóm Xuân Thu nhã tập. Liền ngay sau đó, cả dân tộc Việt Nam phải bƣớc chân vào hai cuộc chiến khốc liệt nối tiếp nhau. Sau thế hệ thơ tiền chiến (1930 – 1945), thi ca Việt Nam đi thẳng vào khói lửa trận mạc trong suốt ba mƣơi năm chiến tranh liên miên giặc giã với thế hệ thơ kháng chiến (1945 – 1975). Từ trong lò lửa chiến tranh đó, nhiều lớp nhà văn, nhà thơ đã ra đời và làm nên nền văn nghệ kháng chiến giàu giá trị với đội ngũ sáng tác hùng hậu, hệ thống đề tài, nội dung tƣ tƣởng, nghệ thuật biểu hiện có nhiều tìm tòi đổi mới.
Và cũng từ đó 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đã nảy sinh hiện tƣợng phổ quát trên văn đàn Việt Nam sau năm 1945 là số đông nhà văn nhà thơ tiền chiến tham gia Cách mạng trở thành ngƣời chiến sĩ trên mặt trận văn hóa. Cùng với nỗ lực gia nhập quần chúng, họ chối bỏ con ngƣời cá nhân, “đào thải tất cả cố nhân trong lòng mình” (Nguyễn Tuân); do hoàn cảnh lịch sử lúc này, tiếng nói đại chúng đã lấn át tiếng nói cá nhân. Kể từ đó, văn học chủ yếu là diễn đàn của cái ta, của con ngƣời mới và “hễ thò đứa nào ở dĩ vãng hiện về (…) là phải giết ngay” (Lột xác - Nguyễn Tuân). Trong bối cảnh đó, nhóm Dạ đài ra đời năm 1946 gồm các thành viên nhƣ: Hoàng Cầm, Lê Đạt, Trần Dần, Tử Phác, Phùng Quán, Vũ Hoàng Địch… và trình làng bản Tuyên ngôn tượng trưng.
Tuyên ngôn tượng trưng ra đời trên nền tảng tri thức, tƣ tƣởng chịu ảnh hƣởng rất rõ những trào lƣu văn học phƣơng Tây hiện đại. Dù nội dung có chỗ trùng lặp, cách diễn đạt nhiều khi đại ngôn, hoa mĩ, lạm dụng từ Hán Việt… đem lại cảm giác nặng nề và rƣờm rà, ngƣời đọc vẫn có thể thấy rất rõ lí tƣởng, tâm huyết của các tác giả đối với thơ và “nghề thơ”. Điều đáng nói là những vấn đề này đã đƣợc các tác giả cố gắng đúc kết nhƣ những quan điểm lí thuyết nhằm định hƣớng và chỉ đạo cho chính hoạt động sáng tác cụ thể của họ. Với Tuyên ngôn tượng trưng, nhóm Dạ đài muốn làm một cuộc cách mạng trong thi ca, thay đổi cách nghĩ, cách biểu hiện trong thơ, chủ trƣơng "chôn tiền chiến" (nghĩa là: phải viết khác đi, phải cách tân, phải quên những thành tựu của tiền chiến để sáng tạo nên những thành tựu mới.
Đó là cách tƣ duy và nhận thức rất chủ động, quyết liệt: Nhận thức thơ tiền chiến nhƣ một giá trị, nhƣng để nền thơ ca nƣớc nhà tiến lên với những thành tựu mới, họ coi đó là một giá trị cần phải bị vƣợt qua. Quá trình sáng tác của những ngƣời trong nhóm Dạ đài cho thấy ở họ có tình yêu nghệ thuật sâu sắc trên nền tảng những tƣ tƣởng, nhận thức hiện đại 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com và giàu khát vọng của ngƣời nghệ sĩ nhằm đóng góp “một chút gì” hữu ích cho nền thơ dân tộc, rộng hơn, cho quá trình kiến thiết đời sống tinh thần của con ngƣời Việt Nam trong một thời cuộc lịch sử mới. Tinh thần tiên phong, hiện đại đi cùng ý thức dân tộc thể hiện rõ trong tuyên ngôn và quá trình sáng tạo đó. Dẫu rằng không phải bất kì sự tìm tòi hình thức nào cũng thành công (cũng nhƣ không phải bất kì sự thay đổi nào trong thơ cũng mang ý nghĩa cách tân nghệ thuật).
Nhƣng với việc tự vƣợt lên những giới hạn thi pháp đã bị khai thác đến mòn sáo để tìm kiếm những lối đi nghệ thuật nhiều khi đầy chông chênh, bất trắc, phiêu lƣu thì sự tìm tòi của những thành viên trong nhóm Dạ đài chính là kết quả đáng trân trọng của một sự tự giác và tự tín nghề nghiệp cao độ. Lý giải về sự ra đời của bản tuyên ngôn và nhóm Dạ đài, Vƣơng Trí Nhàn cho rằng “trong những năm 45 – 50, ý nghĩ chi phối Trần Dần và bạn bè quy gọn lại một điểm: Tƣơng ứng với cuộc cách mạng trong xã hội phải có một cuộc cách mạng trong văn chƣơng. Cách mạng chẳng nhẽ lại cho phép ngƣời ta viết nhƣ cũ? Từ cách bố trí một dòng thơ trở đi, cũng phải thay đổi. Thứ văn chƣơng vuốt ve mơn trớn, thứ văn chƣơng của những chàng nàng, lại càng phải thay đổi.
Nghệ thuật phải đƣợc làm lại” [22, 18]. Có thể nhận thấy trong hầu suốt cuộc đời sáng tạo của mình, Trần Dần và các bạn cùng chí hƣớng luôn chủ trƣơng gạt bỏ thứ nghệ thuật không đem lại nhận thức chân thực về cuộc sống cũng nhƣ nhận thức về cuộc sống một cách giản đơn theo giản đồ đƣợc quy định từ trƣớc, góp phần làm nên những thay đổi đáng kể trong đời sống văn học nƣớc ta giai đoạn đó và cả sau này. Bƣớc vào giai đoạn 1954 – 1964, đất nƣớc ta chuyển sang một giai đoạn mới với nhiệm vụ mới: miền Bắc khắc phục hậu quả chiến tranh và đi lên chủ nghĩa xã hội, chi viện cho miền Nam đang tiếp tục chiến đấu chống Mỹ - ngụy, tiến tới mục tiêu thống nhất đất nƣớc. Trên cơ sở đó, thơ phát triển 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com mạnh mẽ theo hai hƣớng với hai cảm hứng chủ đạo là yêu nƣớc và chủ nghĩa xã hội.
Ra đời và phát triển trong điều kiện không bình thƣờng nhƣ vậy của lịch sử, khi “Các nhà thơ bằng những con đƣờng khác nhau cùng đi đến một chân lý: nghệ thuật cao quý nhất của thơ ca không phải là phong cách cầu kỳ, khó hiểu, mà chính là ở sự giản dị dễ hiểu, ở sự hài hòa phổ cập và nâng cao giữa truyền thống và cách tân, giữa dân tộc và hiện đại” [11, 145] nên những nỗ lực cách tân thơ của nhóm Dạ đài không dễ đƣợc chấp nhận và nhanh chóng bị chìm đi bởi nhiều nguyên nhân cũng là điều dễ hiểu. Cùng với nhiều thành viên trong nhóm Dạ đài, Trần Dần tồn tại âm thầm nhƣ một mạch lạ, ngầm chảy cùng chiều về mặt tƣ tƣởng cách mạng của nền văn nghệ kháng chiến, nhƣng không xuôi chiều với xu hƣớng quần chúng hóa một cách giản đơn. Đó là cách tiếp nối và nối dài nền văn học nƣớc ta trên một miền đất khác, bằng một lối đi đặc biệt. Trần Dần trong thời kỳ Nhân văn – Giai phẩm và hậu Nhân văn – Giai phẩm 2.
Thời kỳ Nhân văn – Giai phẩm Những sự thay đổi trong đời sống chính trị, văn hóa xã hội cùng nhu cầu đổi mới văn chƣơng của văn nghệ sĩ là nguồn mạch trực tiếp và chủ yếu tác động đến nhận thức của mỗi văn nghệ sĩ. Đó chính là nguồn cội cho sự phát sinh quan niệm sáng tác của các nghệ sĩ và cuộc tranh luận văn học giai đoạn 1955 – 1958 diễn ra gay gắt trên văn đàn: Nhân văn - Giai phẩm – một phong trào đòi quyền tự do sáng tác của văn nghệ sĩ và trí thức miền Bắc, khởi xƣớng từ năm 1955 và chính thức kết thúc vào tháng 6 năm 1958.