Luận án tiến sĩ các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp ngoài nhà nước trên địa bàn tỉnh thái nguyên

Luận án tiến sĩ nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp ngoài nhà nước trên địa bàn tỉnh thái, phát triển phương pháp mới, đánh giá hiệu quả ứng

Chuyên ngành

Quản lý kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2021

244
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về các yếu tố quyết định đầu tư của doanh nghiệp ngoài nhà nước tại Thái Nguyên

Đầu tư của doanh nghiệp ngoài nhà nước (DNNNN) tại Thái Nguyên đang ngày càng trở nên quan trọng trong bối cảnh phát triển kinh tế hiện nay. Các yếu tố quyết định đầu tư không chỉ ảnh hưởng đến sự phát triển của DNNNN mà còn tác động đến toàn bộ nền kinh tế của tỉnh. Nghiên cứu này sẽ phân tích các yếu tố chính ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của DNNNN, từ đó đưa ra những giải pháp thúc đẩy đầu tư hiệu quả.

1.1. Khái niệm và vai trò của doanh nghiệp ngoài nhà nước

DNNNN là một phần quan trọng trong nền kinh tế, đóng góp vào tăng trưởng và tạo việc làm. Các DNNNN thường có khả năng linh hoạt hơn trong việc thích ứng với thị trường và đổi mới công nghệ.

1.2. Tình hình đầu tư của doanh nghiệp ngoài nhà nước tại Thái Nguyên

Thái Nguyên đã chứng kiến sự gia tăng đáng kể trong số lượng DNNNN và vốn đầu tư. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức mà các DNNNN phải đối mặt trong quá trình đầu tư.

II. Các thách thức trong quyết định đầu tư của doanh nghiệp ngoài nhà nước tại Thái Nguyên

Mặc dù có nhiều cơ hội, DNNNN tại Thái Nguyên vẫn gặp phải nhiều thách thức trong quyết định đầu tư. Những thách thức này có thể đến từ môi trường kinh doanh, chính sách đầu tư, và các yếu tố bên ngoài khác.

2.1. Môi trường đầu tư và chính sách hỗ trợ

Chính sách đầu tư của tỉnh Thái Nguyên có ảnh hưởng lớn đến quyết định đầu tư của DNNNN. Các chính sách ưu đãi và hỗ trợ cần được cải thiện để thu hút nhiều hơn các nhà đầu tư.

2.2. Rủi ro trong đầu tư và cách quản lý

Rủi ro đầu tư là một yếu tố quan trọng mà DNNNN cần xem xét. Việc quản lý rủi ro hiệu quả có thể giúp DNNNN giảm thiểu thiệt hại và tối ưu hóa lợi nhuận.

III. Phương pháp phân tích các yếu tố quyết định đầu tư của doanh nghiệp ngoài nhà nước

Để hiểu rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư, nghiên cứu sẽ áp dụng các phương pháp phân tích định tính và định lượng. Các phương pháp này sẽ giúp xác định rõ ràng các yếu tố chính và mức độ ảnh hưởng của chúng.

3.1. Phân tích định tính về các yếu tố bên ngoài

Phân tích định tính sẽ giúp xác định các yếu tố bên ngoài như môi trường kinh doanh, chính sách đầu tư và cơ sở hạ tầng ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của DNNNN.

3.2. Phân tích định lượng về các yếu tố bên trong

Phân tích định lượng sẽ tập trung vào các yếu tố bên trong như năng lực tài chính, kinh nghiệm của nhà đầu tư và quy mô doanh nghiệp, từ đó đưa ra những kết luận chính xác hơn.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn tại Thái Nguyên

Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của DNNNN tại Thái Nguyên. Những kết quả này có thể được áp dụng để cải thiện môi trường đầu tư và chính sách hỗ trợ cho DNNNN.

4.1. Đánh giá tác động của các yếu tố đến quyết định đầu tư

Nghiên cứu sẽ chỉ ra các yếu tố có ảnh hưởng tích cực và tiêu cực đến quyết định đầu tư của DNNNN, từ đó đưa ra các khuyến nghị cụ thể.

4.2. Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn

Kết quả nghiên cứu sẽ được sử dụng để đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy đầu tư của DNNNN, góp phần vào sự phát triển kinh tế của tỉnh Thái Nguyên.

V. Kết luận và triển vọng tương lai cho đầu tư của doanh nghiệp ngoài nhà nước tại Thái Nguyên

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng các yếu tố quyết định đầu tư của DNNNN tại Thái Nguyên rất đa dạng và phức tạp. Việc hiểu rõ các yếu tố này sẽ giúp các nhà quản lý và chính quyền địa phương có những quyết định đúng đắn hơn trong việc hỗ trợ DNNNN.

5.1. Tóm tắt các yếu tố quyết định đầu tư

Các yếu tố như chính sách đầu tư, môi trường kinh doanh và năng lực tài chính của DNNNN đều có vai trò quan trọng trong quyết định đầu tư.

5.2. Triển vọng tương lai cho doanh nghiệp ngoài nhà nước

Với những chính sách hỗ trợ hợp lý, DNNNN tại Thái Nguyên có thể phát triển mạnh mẽ hơn trong tương lai, góp phần vào sự phát triển bền vững của tỉnh.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

22/07/2025
Luận án tiến sĩ các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của doanh nghiệp ngoài nhà nước trên địa bàn tỉnh thái nguyên

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 tổng quan nghiên cứu liên quan đến các yếu tố ảnh hưởng đến QĐĐT của DN. Kết quả tổng quan nghiên cứu là cơ sở để tác giả xác định được “khoảng trống” nghiên cứu và xây dựng khung phân tích về các yếu tố ảnh hưởng đến QĐĐT của DNNNN trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Các công trình nghiên cứu nước ngoài Theo quan điểm vĩ mô, các QĐĐT rất quan trọng đối với nền kinh tế, đầu tư chiếm phần lớn sự biến động trong tổng sản phẩm quốc dân và là chỉ số quan trọng dẫn đầu về hiệu quả kinh tế (Zarnowitz, 1992). Theo quan điểm vi mô, đầu tư rất quan trọng cho sự phát triển của các công ty riêng lẻ, tăng hiệu quả bằng cách giảm chi phí đơn vị.

Từ tầm quan trọng của QĐĐT đối với nền kinh tế và đối với công ty nói riêng, nên có rất nhiều các nghiên cứu đề cập tới vấn đề này. Các nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến QĐĐT của DN được tiếp cận theo các cách thức khác nhau. Bao gồm: các yếu tố bên trong DN và các yếu tố bên ngoài DN. ❖ Tiếp cận theo quan điểm vi mô và các yếu tố ảnh hưởng bên trong DN phải kể đến các nghiên cứu như: Budina và cộng sự (2000); Gunning và Mengistae (2001); Campa và Shaver (2002); Aivazian và cộng sự (2005); Chittoo và Odit (2008); Soumaya (2012); Kannadhasan (2014); Chyi và Tien (2014); Mudammad Sajid và cộng sự (2015).

Cụ thể: Nghiên cứu về QĐĐT của các DN có nhiều nghiên cứu được đề cập đến tuy nhiên cho đến nay các nhà nghiên cứu đều đánh giá cao nghiên cứu về quản trị (Management) của Stoner, J. Nghiên cứu này đã trình bày các lý thuyết liên quan đến QĐĐT và đề xuất 8 bước trong tiến trình ra quyết định của DN. Một số nghiên cứu khác xem xét việc đầu tư của DN trên góc độ hành vi là của Sultana, S.(2012)- “Phân tích thực nghiệm về các yếu tố ảnh hưởng đến việc ra quyết định và hành vi của các nhà đầu tư CP cá nhân Ấn Độ”. Vì vậy bên cạnh các yếu tố môi trường, nghiên cứu này cũng đề cập tới các yếu tố cá nhân của người ra quyết định ảnh hưởng tới QĐĐT của DN [83], [84].

Nghiên cứu về “Hạn chế thanh khoản và đầu tư vào các nền kinh tế chuyển tiếp - trường hợp của Bulgaria”. Budina và cộng sự (2000) đã sử dụng dữ liệu của 1.003 DN ở Bulgaria từ 1993-1996 để điều tra tác động của hạn chế thanh khoản trên hiệu suất đầu tư. Nghiên cứu sử dụng một mô hình gia tốc đơn giản (simple accelerator model of investment) của đầu tư để kiểm tra xem hạn chế thanh khoản 6 có liên quan trong trường hợp của Bulgaria. Kết quả cho thấy hệ số của biến vốn tự có là dương và có ý nghĩa đối với toàn bộ mẫu.

Tác giả đã phân loại các DN trên thành hai loại DN lớn và nhỏ theo quy mô lao động. Kết quả phân tích cho thấy: hệ số của biến số vốn tự có là dương và có ý nghĩa đối với các DN nhỏ trong khi hệ số này không có ý nghĩa đối với các DN lớn.[50] Gunning và Mengistae (2001) nghiên cứu về “Yếu tố QĐĐT sản xuất châu Phi: Bằng chứng kinh tế vi mô”. Nghiên cứu đã sử dụng dữ liệu DN ở 3 quốc gia là Ghana, Kenya, Cameroon để nghiên cứu về những yếu tố ảnh hưởng đến đầu tư của DN. Trong nghiên cứu, tác giả giả thuyết có 4 yếu tố tác động đến đầu tư của DN: (1) giá trị gia tăng, (2) lợi nhuận, (3) quy mô, (4) nợ vay.

Kết quả hồi quy FEE (Fix Efffects Estimates) cho thấy chỉ có lợi nhuận là có ảnh hưởng đến QĐĐT của DN. Theo các lý thuyết về lựa chọn thị trường, các công ty nhỏ phát triển nhanh hơn cho mỗi độ tuổi và mỗi kích thước nhất định; Tỷ lệ đầu tư cao hơn đối với các DN có lịch sử năng suất cao hơn. [64] Nghiên cứu của Campa và Shaver (2002) về “Xuất khẩu và đầu tư vốn: về hành vi chiến lược của các nhà xuất khẩu”, nghiên cứu sử dụng dữ liệu của 3.057 DN hoạt động trong ngành sản xuất ở Tây Ban Nha giai đoạn 1990 – 1998 để tìm hiểu về mối quan hệ giữa xuất khẩu và dòng vốn đầu tư của DN. Trong nghiên cứu này, xuất khẩu được tác giả đo lường bằng 2 cách: biến dummy (có xuất khẩu và không xuất khẩu) và phần trăm sản lượng của DN được xuất khẩu.

Kết quả hồi quy Tobit cho thấy các nhà xuất khẩu có khả năng thanh khoản cao hơn các nhà không xuất khẩu; DN xuất khẩu sẽ có dòng tiền ổn định hơn và đầu tư nhiều hơn. [51] Aivazian và cộng sự (2005) nghiên cứu tác động của đòn bẩy tài chính đến đầu tư của DN bằng cách sử dụng dữ liệu của 863 DN giai đoạn 1982 – 1999 ở Canada. Nghiên cứu sử dụng mô hình hồi quy gộp FEM và REM. Kết quả nghiên cứu cho thấy đòn bẩy tài chính có tác động âm đến đầu tư và kết quả này rất có ý nghĩa về mặt thống kê trong trường hợp các DN tăng trưởng chậm.

[49] Cũng nghiên cứu tác động của đòn bẩy tài chính và đầu tư của DN. Chittoo và Odit (2008) sử dụng dữ liệu của 27 DN ở Mauritius giai đoạn 1990 - 2004 để nghiên cứu. Cùng sử dụng mô hình hồi quy gộp FEM và REM, kết quả ước lượng cho thấy đòn bẩy tài chính có tác động tiêu cực và có ý nghĩa thống kê đối với đầu tư của DN, điều này cho thấy cấu trúc vốn giữ vai trò hết sức quan trọng trong chính sách đầu tư của DN. Kết quả hồi quy vẫn có ý nghĩa thống kê đối với các DN tăng trưởng thấp nhưng không còn ý nghĩa thống kê đối với các DN tăng trưởng cao.

[52] 7 Soumaya (2012) khi nghiên cứu về tác động của nợ, quy mô DN và tính thanh khoản lên sự nhạy cảm của dòng vốn đầu tư của 82 DN ở Pháp giai đoạn 1999 - 2005 đã chỉ ra: nợ có tác động âm lên dòng vốn đầu tư của DN; DN có quy mô càng lớn thì càng mạnh dạn tăng vốn đầu tư. Tuy nhiên do tác giả đo lường tính thanh khoản của DN bằng hai đại lượng khác nhau và việc ước lượng tác động của hai biến này lại cho kết quả trái chiều nên nghiên cứu chưa đưa ra kết luận về tác động của tính thanh khoản lên sự nhạy cảm của dòng vốn đầu tư. [81] Kannadhasan (2014) là nghiên cứu những yếu tố ảnh hưởng đến đầu tư của DN hoạt động trong ngành dược phẩm ở Ấn Độ. Tác giả sử dụng Fixed effect (hiệu ứng cố định) để nghiên cứu về vấn đề này.

Kết quả nghiên cứu cho thấy đòn bẩy tài chính có tác động âm đến đầu tư và dòng tiền có tác động dương đến đầu tư của DN. Kết quả hồi quy cũng cho thấy doanh thu và Tobin’s Q cũng có tác động tích cực đến đầu tư của DN. [69] Chyi và Tien (2014) cho rằng cấu trúc tài chính DN và nguồn lực tài chính là những những yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến QĐĐT và giá trị DN. Bằng cách hồi quy dựa trên dữ liệu bảng, tác giả đã cho thấy dòng tiền và đầu tư có tương quan mạnh với nhau.

Ngoài ra, một số yếu tố khác cũng sẽ ảnh hưởng đến đầu tư của DN như tài sản hữu hình, quy mô DN, cơ hội đầu tư, cổ tức và đòn bẩy tài chính. Trong khi đó, khấu hao và hạn chế tài chính không có ảnh hưởng đến QĐĐT của DN. [55] Mudammad Sajid và cộng sự (2015) với nghiên cứu được thực hiện trên các công ty niêm yết của Pakistan để xem xét tác động của đòn bẩy tài chính đối với các QĐĐT. Với mục đích này, nhóm tác giả đã thu thập dữ liệu của 5 năm (2009-2013) với mẫu gồm 30 công ty hàng đầu đã đăng ký trên sàn giao dịch chứng khoán Karachi (KSE).

Các phương pháp đã áp dụng là: thống kê mô tả, phân tích tương quan và mô hình hồi quy bình phương nhỏ nhất bình thường. Các yếu tố tác động đến đầu tư bao gồm: (1)đòn bẩy tài chính, (2)thanh khoản, (3)lợi nhuận, (4) luồng tiền,(5)TonbinQ, (6) tăng trưởng bán hàng. Kết quả hồi quy của mô hình OLS chỉ ra rằng đòn bẩy tài chính có tác động tiêu cực và đáng kể đến đầu tư ròng. Hơn nữa, thanh khoản và lợi nhuận có tác động tích cực và đáng kể đến đầu tư của công ty trong khi dòng tiền có tác động tích cực nhưng không đáng kể đến đầu tư ròng.

Tobin Q và tăng trưởng doanh số bán hàng có tác động tiêu cực và đáng kể đến đầu tư của công ty. [73] 8 ❖ Tiếp cận theo quan điểm vĩ mô và các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến QĐĐT của DN. Nghiên cứu về các yếu tố môi trường bên ngoài, nghiên cứu của Stern (2002) quan niệm rằng, các yếu tố môi trường bên ngoài được chia làm 3 nhóm lớn là: (i) Kinh tế chính trị; (ii) Tính hiệu quả của hệ thống quản trị hành chính; (iii) Cơ sở hạ tầng. Trong khi đó, Lu và cộng sự (2006), Jose và cộng sự (2007) khi xem xét khả năng DN đưa ra sự lựa chọn và QĐĐT đã làm rõ sự hiện diện của một số yếu tố khác.

Lu và cộng sự (2006) chỉ ra, trên góc độ ra QĐĐT, chi phí sẽ là rào cản đầu tiên mà chủ thể đầu tư phải xem xét và vượt qua. Một cơ hội đầu tư tốt là chưa đủ để ra quyết định thực hiện khi DN không có khả năng đáp ứng được khoản chi phí đầu tư dự kiến, cho dù các yếu tố khác thuộc môi trường bên ngoài là rất thuận lợi. Cách tiếp cận của Lu và cộng sự đánh giá sát thực sự ảnh hưởng của chúng tới hành vi đầu tư dự kiến của DN. Nhóm yếu tố về chính trị vẫn tương tự như nhóm yếu tố “mềm” trong nghiên cứu Li và Li (1999), nhóm này quy định các khuôn khổ, hành vi bắt buộc nhà đầu tư phải tuân thủ, được coi như luật chơi của các nhà đầu tư.

Các yếu tố còn lại cũng cần được xem xét như: yếu tố về hạ tầng có ảnh hưởng tới cả đầu vào và đầu ra, nhóm yếu tố chi phí quy định đầu vào và nhóm yếu tố thị trường tương ứng với đầu ra. Tóm lại, trong nghiên cứu của mình, Lu và cộng sự (2006) đã chỉ ra có 4 yếu tố thuộc môi trường bên ngoài ảnh hưởng đến QĐĐT của DN: (i) Chính trị; (ii) Hạ tầng; (iii) Chi phí; (iv) Thị trường.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ