PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do hình thành đề tài Quản trị công ty (QTCT) đã đƣợc biết đến nhƣ một thuật ngữ quen thuộc và ngày càng trở nên thông dụng cũng nhƣ đƣợc quan tâm tại nhiều nƣớc trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Theo Các Nguyên tắc Quản trị Công ty của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh Tế (OECD-Organization for Economic Cooperation and Development) năm 1999, “QTCT là những biện pháp nội bộ để điều hành và kiểm soát công ty, liên quan tới các mối quan hệ giữa Ban Giám đốc, Hội đồng quản trị và các cổ đông của một công ty với các bên có quyền lợi liên quan. QTCT cũng tạo ra một cơ cấu để đề ra các mục tiêu của công ty và xác định các phƣơng tiện để đạt đƣợc những mục tiêu đó, cũng nhƣ để giám sát kết quả hoạt động của công ty.
QTCT chỉ đƣợc cho là có hiệu quả khi khích lệ đƣợc Ban Giám đốc và Hội đồng quản trị theo đuổi các mục tiêu vì lợi ích của công ty và của các cổ đông, cũng nhƣ phải tạo điều kiện thuận lợi cho việc giám sát hoạt động của công ty một cách hiệu quả, từ đó khuyến khích công ty sử dụng các nguồn lực một cách tốt hơn”. QTCT tốt đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo nên sự hài hòa trong các mối quan hệ giữa Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc, các cổ đông và các bên có quyền lợi liên quan trong doanh nghiệp, từ đó góp phần đƣa doanh nghiệp phát triển theo một định hƣớng đúng đắn, nhất quán và bền vững. QTCT tốt sẽ thúc đẩy doanh nghiệp hoạt động hiệu quả và giúp doanh nghiệp tăng cƣờng khả năng tiếp cận với các nguồn vốn bên ngoài, góp phần tích cực vào việc gia tăng giá trị doanh nghiệp, tăng cƣờng thu hút đầu tƣ và phát triển bền vững cho doanh nghiệp và nền kinh tế (Nguyễn Trƣờng Sơn, 2010; IFC và UBCKNN, 2010). Nhƣ đã trình bày ở trên, vai trò quan trọng của QTCT đã thu hút đƣợc nhiều sự quan tâm thể hiện ở số lƣợng các nghiên cứu trên thế giới ngày càng tăng lên trong thời gian qua.
Các nghiên cứu cho thấy thực tiễn QTCT tốt giúp thúc đẩy giá trị kinh tế gia tăng của các doanh nghiệp, giúp doanh nghiệp hoạt động có năng suất LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 cao hơn và giảm rủi ro tài chính hệ thống cho các quốc gia (IFC và UBCKNN, 2006). Tại Việt Nam, khuôn khổ luật pháp về QTCT tại Việt Nam, đặc biệt là đối với các công ty niêm yết, vẫn đang ở trong những giai đoạn đầu phát triển và đƣa vào áp dụng. Vào năm 2007, Bộ Tài chính đã ban hành Quy chế QTCT áp dụng mang tính bắt buộc đối với các công ty niêm yết (IFC và UBCKNN, 2010). Đến năm 2012, Thông tƣ 121/2012/TT-BTC về QTCT áp dụng cho các công ty đại chúng đã đƣợc Bộ Tài Chính ban hành.
Điều này cho thấy nỗ lực của các nhà xây dựng pháp luật trong việc cũng cố cơ sở pháp lý nhằm tăng cƣờng công tác QTCT ở Việt Nam. Mặc dù đã có những chuyển biến đáng kể trong việc xây dựng khuôn khổ pháp luật về QTCT, nhƣng việc tuân thủ về QTCT cũng nhƣ áp dụng các thông lệ tốt trong QTCT của các doanh nghiệp Việt Nam vẫn chƣa thực sự đƣợc quan tâm. Một vấn đề nữa là mặc dù thực tế là các doanh nghiệp Việt Nam đang có sự tăng trƣởng mạnh về số lƣợng, nhƣng năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp còn yếu. Trong đó, một trong những nguyên nhân là nằm ở năng lực quản trị, đặc biệt là năng lực QTCT còn hết sức hạn chế.
Thêm vào đó, theo đánh giá của IFC và UBCKNN (2012), các doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu có xu hƣớng thực hiện QTCT nhằm tuân thủ các quy định của luật pháp, mang tính hình thức chứ không phải là áp dụng các kinh nghiệm quốc tế và các thông lệ tốt nhất trên thế giới nhằm nâng cao hiệu quả công tác QTCT của doanh nghiệp mình với mục đích phát huy tác dụng của nó nhằm nâng cao giá trị doanh nghiệp và phát triển bền vững. Xuất phát từ những nhu cầu cấp thiết trên, tôi xin đi vào nghiên cứu “Các yếu tố quản trị công ty tác động đến giá trị doanh nghiệp của các công ty niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán TP. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Mục tiêu nghiên cứu - Mục tiêu chung: Nghiên cứu các yếu tố quản trị công ty tác động đến giá trị doanh nghiệp của các công ty đƣợc niêm yết trên Sở Giao Dịch Chứng Khoán Thành phố Hồ Chí Minh.
- Mục tiêu cụ thể: + Xác định các yếu tố quản trị công ty tác động đến giá trị doanh nghiệp của các công ty niêm yết tại TP. + Xác định mức độ ảnh hƣởng của các yếu tố quản trị công ty đến giá trị doanh nghiệp các công ty niêm yết TP. Câu hỏi nghiên cứu Nghiên cứu đƣợc thực hiện nhằm trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau: - Các yếu tố nào của quản trị công ty ảnh hƣởng đến giá trị doanh nghiệp trên thị trƣờng chứng khoán TP. HCM? - Mức độ ảnh hƣởng của các yếu tố quản trị công ty đến giá trị doanh nghiệp trên thị trƣờng chứng khoán Tp.HCM? - Các giải pháp nào nhằm nâng cao giá trị doanh nghiệp trên thị trƣờng chứng khoán TP.
HCM thông qua các yếu tố quản trị công ty? 4. Đối tƣợng, phạm vi và thời gian nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu Các yếu tố của quản trị công ty tác động đến giá trị công ty của các công ty niêm yết TP. Phạm vi nghiên cứu + Về thời gian: Số liệu khảo sát từ 2011 - 2015 + Về không gian: các công ty cổ phần niêm yết trên Sở Giao Dịch Chứng Khoán Thành phố Hồ Chí Minh. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Phƣơng pháp nghiên cứu Đề tài sử dụng phƣơng pháp luận nghiên cứu định lƣợng để đánh giá mức độ ảnh hƣởng của các yếu tố quản trị công ty đến giá trị doanh nghiệp của các công ty đƣợc niêm yết trên Sở Giao Dịch Chứng Khoán Thành phố Hồ Chí Minh. Dựa trên các công trình nghiên cứu trƣớc đây, tác giả đã tổng hợp, xây dựng lại mô hình nghiên cứu sao cho phù hợp với thực tế tại Việt Nam cũng nhƣ phù hợp với điều kiện của nghiên cứu này. Các kiểm định mô hình nghiên cứu đã đề ra bao gồm các công việc nhƣ chọn mẫu, lọc dữ liệu và phân tích dữ liệu. Nguồn tài liệu chủ yếu là dữ liệu thứ cấp do tác giả thu thập dựa vào các báo cáo thƣờng niên của các công ty niêm yết đã đƣợc công bố.
Cùng với sự hỗ trợ của các phần mềm nhƣ SPSS, Microsoft Excel để thống kê, kiểm tra mối quan hệ giữa quản trị công ty và chính sách cổ tức của các công ty niêm yết 6. Ý nghĩa khoa học của đề tài Tổng kết các lý thuyết về quản trị công ty, giá trị doanh nghiệp trong nƣớc và trên thế giới. Định lƣợng đƣợc mức độ ảnh hƣởng của các yếu tố quản trị công ty đến giá trị doanh nghiệp công ty niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán TP. Đánh giá tác động của quản trị công ty đối với giá trị doanh nghiệp công ty và đƣa ra những giải pháp từ quản trị công ty nhằm nâng cao giá trị công ty niêm yết trên thị trƣờng chứng khoán TP.
Kết cấu của đề tài nghiên cứu Luận văn bao gồm 5 chƣơng: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu Chƣơng 2: Cơ sở lý luận Chƣơng 3: Phƣơng pháp nghiên cứu Chƣơng 4: Kết quả nghiên cứu Chƣơng 5: Kết luận và kiến nghị LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Chương này trình bày các nghiên cứu có liên quan đến đề tài đã được thực hiện trên Thế giới và Việt Nam từ đó đưa ra những nhận xét và hướng nghiên cứu tiếp theo của đề tài. Đề tài nghiên cứu nƣớc ngoài Theo nhiều nghiên cứu trƣớc đây, QTCT là một yếu tố có vai trò quyết định trong việc tác động đến giá trị doanh nghiệp nhƣ: Gompers et al. (2003), xây dựng chỉ số quản trị (G-Index) để đại diện cho quyền cổ đông của 1.500 công ty lớn giao dịch trên thị trƣờng chứng khoán Mỹ trong những năm 1990. Dựa trên chỉ số này, Gompers et al phân loại các doanh nghiệp trong mẫu thành hai danh mục đầu tƣ riêng biệt, các doanh nghiệp với quyền cổ đông mạnh nhất và các doanh nghiệp với quyền cổ đông yếu nhất.
Một chiến lƣợc đầu tƣ mua các côngty với quyền cổ đông mạnh nhất và bán các công ty với quyền cổ đông yếu nhất đã kiếm đƣợc lợi nhuận bất thƣờng là 8,5%/năm trong thời gian nghiên cứu. Gompers et al cũng tìm thấy quản trị công ty tốt sẽ làm gia tăng giá trị doanh nghiệp đƣợc đo bằng Tobin Q. Drobetz et al. (2003), xây dựng chỉ số quản trị (CGR) cho các công ty công chúng Đức.
Drobetz et al cho thấy có mối quan hệ cùng chiều giữa quản trị công ty và giá trị doanh nghiệp. Ngoài ra, Drobetz et al còn cho thấy lợi nhuận cổ phiếu (Stock returns) tƣơng quan âm với quản trị công ty nếu tỷ lệ chi trả cổ tức (Dividend yields) đƣợc sử dụng tƣơng đƣơng chi phí vốn (Cost of capital). Một chiến lƣợc đầu tƣ mua các công ty có chỉ số CGR cao và bán các công ty có chỉ số CGR thấp thu đƣợc lợi nhuận bất thƣờng (Abnormal returns) khoảng 12%/năm trong khoảng thời gian nghiên cứu. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Nam và Nam (2004), cho rằng QTCT đóng một vai trò quan trọng trong việc tác động lên giá trị doanh nghiệp tại các thị trƣờng tài chính.
Erickson và cộng sự (2005) cũng ủng hộ quan điểm này và cho rằng thực tiễn QTCT tốt có thể làm gia tăng giá trị công ty ở các nƣớc có cơ cấu sở hữu tập trung cao ngay cả khi ở đó có chính sách bảo vệ cổ đông thiểu số tốt. Klapper và Love (2004) khi thực hiện nghiên cứu trên dữ liệu về QTCT tại 14 thị trƣờng mới nổi đã đƣa ra kết luận rằng QTCT tốt hơn thực sự mang lại thành quả tốt hơn cho doanh nghiệp và đƣa đến việc công ty đƣợc định giá cao hơn trên thị trƣờng. Klapper và Love (2004) cũng cho thấy các quy chế QTCT ở cấp độ công ty lại càng trở nên quan trọng hơn ở các nƣớc có môi trƣờng pháp lý yếu. QTCT có liên quan đến việc bảo vệ quyền lợi cho các cổ đông và các bên liên quan trong một thị trƣờng.