Chương 1 TÔNG QUAN 1. Tống quan tài liệu nghiên cứu 1. Nghiên cứu nước ngoài Akudugu và cộng sự (2012) đã nghiên cứu các yếu tố nảo ảnh hưởng đến quyết định sản xuất rau hiện đại của các hộ dân ở Ghana. Nghiên cứu đã xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến các quyết định áp dụng công nghệ sản xuất rau hiện đại thông qua việc phỏng vấn 300 nông dân huyện Bawku West của Ghana và mô hình logit được ước tinh dé xác định các yếu tố ảnh hưởng.
Các yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng công nghệ sản xuất rau hiện đại được phân loại thành: các yếu tô kinh tế, các yếu tố xã hội và các yếu tố thé chế. Các yếu tố kinh tế bao gồm quy mô trang trại, chi phi công nghệ hoặc hiện đại hóa, lợi ích mong đợi từ việc áp dụng công nghệ và các hoạt động phi nông nghiệp. Quy mô trang trại và lợi ích mong đợi là những yếu tố kinh tế quan trọng duy nhất ảnh hưởng đến các quyết định của các nông hộ ở huyện Bawku West của vùng Đông Bắc Ghana dé áp dụng các công nghệ sản xuất rau hiện đại. Các yếu tố xã hội bao gồm tuổi tác, trình độ học vấn và giới tính.
Tất cả các yếu tố xã hội này đã được tìm thấy có ảnh hưởng đáng ké đến các quyết định của các nông hộ ở huyện Bawku West của vùng Đông Bắc Ghana dé áp dụng nông nghiệp hiện đại công nghệ sản xuất. Các yếu tố thé chế bao gồm việc tiếp cận thông tin và các dịch vụ khuyến nông đã ảnh hưởng đáng ké đến khả năng áp dụng các công nghệ sản xuất rau hiện đại của khu vực nông nghiệp ở vùng Đông Bắc Ghana. Nghiên cứu của Laosutsan và cộng sự (2019) đã xác định và điều tra các yếu tố anh hưởng đến việc áp dụng các quy trình thực hành nông nghiệp tốt (GAP) và việc ra quyết định sản xuất măng tây và ngô ngọt quy mô nhỏ của nông dân Thái Lan. Trong nghiên cứu, tổng số 147 hộ nông dân trồng rau (66 hộ trồng măng tây và 81 hộ trồng ngô ngọt) được chọn ngẫu nhiên từ các khu vực chuyên canh rau.
Hồi quy Logit nhị phân được sử dụng dé phân tích thông tin thu thập được từ cuộc khảo sát này. Kết quả cho thấy biến thu nhập là yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến việc áp dụng GAP của nông dân trồng rau tham gia và yếu tố địa điểm có ảnh hưởng nhiều nhất đến quyết định xuất khâu của người trồng. Nghiên cứu của Rostiar và cộng sự (2020) đã chỉ ra các yếu té ảnh hưởng đến sự tham gia của nông dân trong việc thực hiện GAP, cũng như cách GAP được thực hiện. Nghiên cứu được thực hiện tại 3 quận là West Bangka, Central Bangka và South Bangka như một trung tâm sản xuất hạt tiêu trắng của Indonesia.
Mẫu nghiên cứu gom 142 nông dân đã áp dụng GAP và 82 nông dân không áp dụng GAP. Bằng cách sử dụng mô hình logit, kết quả chỉ ra rằng tuôi, trình độ học vấn, quy mô gia đình, có diện tích trồng và tham gia xã hội hóa GAP sẽ có nhiều cơ hội quyết định thực hiện GAP hơn. Nghiên cứu của Kassa và cộng sự (2022) đã điều tra các yếu tố ảnh hưởng đến việc nông dân áp dụng các thực hành CSA ở Wondo Genet Woreda ở miền nam Ethiopia. Nghiên cứu sử dung dir liệu khảo sát từ 213 hộ gia đình được chọn ngẫu nhiên.
Phương pháp thống kê mô tả và mô hình hồi quy logit đã được sử dụng. Kết quả cho thấy, nhận thức của nông dân về thực hành nông nghiệp thông minh với khí hậu cao, giúp họ tăng thu nhập và năng suất đất nông nghiép. Trồng cây, sử dụng phân hữu cơ và sử dụng hệ thống tưới tiêu là những thực hành nông nghiệp thông minh với khí hậu phô biến nhất trong khu vực nghiên cứu. Bên cạnh đó, các phát hiện cho thay trinh d6 hoc van, quy mô hộ gia đình, thu nhập, nhận thức về biến đối khí hậu và quy mô dat nông nghiệp đều có tác động đáng ké về mặt thong kê đối với việc nông dân áp dụng nông nghiệp thông minh với khí hậu.
Trong khi đó, khoảng cách giữa trang trại và nhà dân có tác động tiêu cực và đáng ké đến mức độ áp dụng nông nghiệp thông minh với khí hậu. Qua tổng hợp các nghiên cứu có liên quan trên thế giới cho thấy, các nghiên cứu tập trung phân tích các yếu tô điều kiện kinh tế - xã hội của chủ hộ hoặc người ra quyết định trong canh tác các loại cây trồng có ứng dụng công nghệ mới. Trong đó, một số công nghệ mới được nông hộ áp dụng trong các nghiên cứu là thực hành nông nghiệp tốt (GAP), thực hành nông nghiệp thông minh với khí hậu cao (CSA). Các phương pháp được sử dung chủ yếu là thống kê mô tả và mô hình hồi qui Logit.
Tài liệu trong nước Trong nghiên cứu thái độ đối với phát triển NNCNC của các nông hộ ở tỉnh Đắk Lắk của Lê Đăng Lăng và Lê Tan Bửu (2014) đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng đối với 750 hộ dân. Kết quả phát hiện nông dân chưa hài lòng với các chính sách hỗ trợ và nguồn cung cấp đầu vào, đồng thời ủng hộ chủ trương phát trién NNCNC với định hướng tập trung điều chỉnh cách làm hiện nay, sau đó mới ứng dụng công nghệ kỹ thuật cao. Nghiên cứu cũng phát hiện đối tượng phát biểu về NNCNC nên là người sản xuất rau thành công; hiệu quả sản xuất NNCNC được thể hiện qua tăng năng suất-chất lượng và tăng tiêu thụ-giảm hao phí với công nghệ và nhân khẩu học có ảnh hưởng tích cực còn một số yếu tố tự nhiên có ảnh hưởng tiêu cực. Một kết quả nghiên cứu về Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất rau, hoa của nông dân tại huyện Lạc Dương, tỉnh Lâm Đồng (Phạm Triều, 2014) cho thấy phương pháp phân tích hồi qui Logit và phân tích nhân tố được sử dụng dé xác định các yếu tố ảnh hưởng đến ý định ứng dụng công nghệ cao.
Bên cạnh các yếu tố Nhận thức sự hữu ích của công nghệ cao trong sản xuất rau, hoa; Nhận thức kiểm soát hành vi và Chuan chủ quan, nghiên cứu còn xem xét các yếu tô khác có khả năng anh hưởng đến Ý định sử dụng đó là các yếu tô Sự hap dẫn của sản phẩm thay thế (sản xuất truyền thống), Nhận thức về môi trường. Đối với cây lúa, các tác giả nghiên cứu chủ yếu với chủ đề ứng dụng tiến bộ kỹ thuật. Điển hình như Nguyễn Quốc Nghi (2010), nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất lúa của nông hộ ở tỉnh Đồng Tháp. Số liệu được thu thập thông qua phỏng vấn 375 nông hộ sản xuất lúa trên địa ban tinh.
Phương pháp phân tích hồi qui Logit và phân tích nhân tố được sử dung dé xác định các nhân tố ảnh hưởng đến ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất lúa của nông hộ. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các biến trình độ học vấn, tham gia các tổ chức xã hội, tổng diện tích đất sản xuất của hộ, vay vốn sản xuất, cơ sở hạ tầng nông nghiệp tương quan thuận với quyết định ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất lúa của nông hộ. Mức độ ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất lúa của nông hộ ở tỉnh Đồng Tháp chịu tác động bởi ba nhân tố: nguồn lực sản xuất của nông hộ, lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội. Đối với mô hình Logit, tác giả đã chọn 7 biến độc lập là: Số lao động trong nông hộ, trình độ học vấn của chủ hộ, kinh nghiệm sản xuất của chủ hộ, tham gia các tô chức xã hội, diện tích đất sản xuất, vay vốn sản xuất, cơ sở hạ tầng nông nghiệp.
Năm 2014, tai tỉnh Hậu Giang, tác giả Hà Vũ Sơn và Dương Ngoc Thanh đã phân tích các yếu tố ảnh hướng đến ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất lúa của nông hộ. Số liệu sử dụng cho nghiên cứu được điều tra thực tế 376 nông hộ sản xuất lúa trên địa bàn tỉnh. Phương pháp phân tích hồi qui logistic và phân tích nhân tố được sử dụng dé xác định các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và mức độ ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất lúa của nông hộ. Kết quả nghiên cứu cho thấy, các biến trình độ học van, tham gia các tổ chức xã hội, tong diện tích đất sản xuất của hộ, vay vốn sản xuất, cơ sở hạ tầng nông nghiệp sẽ tương quan thuận với quyết định ứng dụng tiến bộ kỹ thuật của nông hộ.
Mức độ ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất lúa của nông hộ ở tỉnh Hậu Giang còn phụ thuộc vào “nguồn lực sản xuất của nông hộ”, “lợi ích kinh tế” và “lợi ích xã hội”. Một kết quả nghiên cứu về “Thyc trang ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất lúa của hộ dân tộc Khmer tại Sóc TÌrăng” (Trịnh Thanh Nhân, 2016) cho thấy dữ liệu được thu thập thông qua khảo sát 193 nông hộ dân tộc Khmer trồng lúa tại Sóc Trăng trong niên vụ 2015. Phân tích thống kê mô tả được sử dụng dé tìm hiểu thực trạng ứng dụng tiến bộ kỹ thuật của nông hộ và phân tích hồi quy binary logistic được dùng dé xác định các nhân tố ảnh hưởng đến việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất lúa của nông hộ. Kết quả cho thấy rằng, tỷ lệ nông dân ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào trong sản xuất lúa khá thấp, chỉ đạt từ 0 - 27,5% cho hầu hết các mô hình, ngoại trừ việc sử dụng giống lúa chất lượng cao va giống lúa xác nhận đạt 53,9% va 60.
Các yêu tố ảnh hưởng tích cực đến việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào san xuất lúa của nông hộ là trình độ học vấn, tham gia các tô chức đoàn thể xã hội, diện tích đất sản xuất, sự quan tâm của chính quyền địa phương, kênh thông tin tiễn bộ kỹ thuật từ cán bộ khuyến nông và đại lý phân phối vật tư nông nghiệp. Các nghiên cứu trong nước cũng đã chỉ ra các yêu tổ ảnh hưởng đến ý định của người dân địa phương trong thực hiện ứng dụng CNC vào trong sản xuất. Các phương pháp phân tích được áp dụng bao gồm: thống kê mô tả, phân tích nhân tố EFA, phân tích hồi qui đa biến và hồi qui Logit.