CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG SẢN XUẤT TINH GỌN KỸ THUẬT LEAN 1. Định nghĩa về Hệ thống sản xuất tinh gọn (kỹ thuật Lean) Kỹ thuật Lean, là một hệ thống các công cụ và phương pháp nhằm liên tục loại bỏ tất cả những lãng phí trong quá trình sản xuất. Lợi ích chính của hệ thống này là giảm chi phí sản xuất, tăng sản lượng, và rút ngắn thời gian sản xuất, tập trung vào bảy mục tiêu cụ thể sau : Hệ thống sản xuất 1. Mục tiêu về Chu kỳ sản xuất: Giảm thời gian quy trình và chu kỳ sản xuất bằng cách giảm thiểu thời gian chờ đợi giữa các công đoạn, cũng như thời gian chuẩn bị cho quy trình và thời gian chuyển đổi mẫu mã hay quy cách sản phẩm.
Mục tiêu về Năng suất lao động: Cải thiện năng suất lao động, bằng cách vừa giảm thời gian nhàn rỗi của công Học viên : Vũ Quốc Hậu -3- Viện Kinh tế và Quản lý Luận văn thạc sỹ Trường đại học Bách khoa Hà Nội nhân, đồng thời phải đảm bảo công nhân đạt năng suất cao nhất trong thời gian làm việc (không thực hiện những công việc hay thao tác không cần thiết). Mục tiêu về Phế phẩm và sự lãng phí: Giảm phế phẩm và các lãng phí hữu hình không cần thiết, bao gồm sử dụng vượt định mức nguyên vật liệu đầu vào, phế phẩm có thể ngăn ngừa, chi phí liên quan đến tái chế phế phẩm, và các tính năng trên sản phẩm vốn không được khách hàng yêu cầu.Mục tiêu về Mức tồn kho: Giảm thiểu mức hàng tồn kho ở tất cả công đoạn sản xuất, nhất là sản phẩm dở dang giữa các công đoạn. Mức tồn kho thấp hơn đồng nghĩa với yêu cầu vốn lưu động ít hơn. Mục tiêu về Tận dụng thiết bị và mặt bằng: Sử dụng thiết bị và mặt bằng sản xuất hiệu quả hơn bằng cách loại bỏ các trường hợp ùn tắc và gia tăng tối đa hiệu suất sản xuất trên các thiết bị hiện có, đồng thời giảm thiểu thời gian dừng máy; 1.
Mục tiêu về Tính linh động: Có khả năng sản xuất nhiều loại sản phẩm khác nhau một cách linh động hơn với chi phí và thời gian chuyển đổi thấp nhất. Mục tiêu về Sản lượng: Nếu có thể giảm chu kỳ sản xuất, tăng năng suất lao động, giảm thiểu ùn tắc và thời gian dừng máy, công ty có thể gia tăng sản lượng một cách đáng kể từ cơ sở vật chất hiện có. Hầu hết các lợi ích trên đều dẫn đến việc giảm giá thành sản xuất – ví dụ như: việc sử dụng thiết bị và mặt bằng hiệu quả hơn dẫn đến chi phí khấu hao trên đơn vị sản phẩm sẽ thấp hơn, sử dụng lao động hiệu quả hơn sẽ dẫn đến chi phí nhân công cho mỗi đơn vị sản phẩm thấp hơn và mức phế phẩm thấp hơn sẽ làm giảm giá vốn hàng bán. Một cách hiểu khác về Lean Manufacturing đó là việc nhắm đến mục tiêu: với cùng một mức sản lượng đầu ra nhưng có lượng đầu vào thấp hơn – ít thời gian hơn, ít mặt bằng hơn, ít nhân công hơn, ít máy móc hơn, ít vật liệu hơn và ít chi phí hơn.
Các nguyên tắc chính của Hệ thống sản xuất tinh gọn Các nguyên tắc chính trong Lean Manufacturing có thể được tóm tắt như sau: Học viên : Vũ Quốc Hậu -4- Viện Kinh tế và Quản lý Luận văn thạc sỹ Trường đại học Bách khoa Hà Nội 1. Nhận thức về sự lãng phí: Bước đầu tiên là nhận thức về những gì có và những gì không làm tăng thêm giá trị từ góc độ khách hàng. Bất kỳ vật liệu, quy trình hay tính năng nào không tạo thêm giá trị theo quan điểm của khách hàng được xem là thừa và nên loại bỏ. Ví dụ việc vận chuyển vật liệu giữa các phân xưởng là lãng phí và có khả năng được loại bỏ.
Chuẩn hoá quy trình: Lean đòi hỏi việc triển khai các hướng dẫn chi tiết cho sản xuất, gọi là Quy Trình Chuẩn, trong đó ghi rõ nội dung, trình tự, thời gian và kết quả cho tất cả các thao tác do công nhân thực hiện. Điều này giúp loại bỏ sự khác biệt trong cách các công nhân thực hiện công việc. Quy trình liên tục: Lean thường nhắm tới việc triển khai một quy trình sản xuất liên tục, không bị ùn tắc, gián đoạn, đi vòng lại, trả về hay phải chờ đợi. Khi được triển khai thành công, thời gian chu kỳ sản xuất sẽ được giảm đến 90%.
Sản xuất “Pull”: Còn được gọi là Just-in-Time (JIT), sản xuất Pull chủ trương chỉ sản xuất những gì cần và vào lúc cần đến. Sản xuất được diễn ra dưới tác động của các công đoạn sau, nên mỗi phân xưởng chỉ sản xuất theo yêu cầu của công đoạn kế tiếp. Chất lượng từ gốc: Lean nhắm tới việc loại trừ phế phẩm từ gốc và việc kiểm soát chất lượng được thực hiện bởi các công nhân như một phần công việc trong quy trình sản xuất. Liên tục cải tiến: Lean đòi hỏi sự cố gắng đạt đến sự hoàn thiện bằng cách không ngừng loại bỏ những lãng phí khi phát hiện ra chúng.
Điều này cũng đòi hỏi sự tham gia tích cực của công nhân trong quá trình cải tiến liên tục. Lịch sử của Hệ thống sản xuất tinh gọn 1. Lịch sử của quản lý sản xuất Cùng với sự phát triển của nền văn minh loài người qua hàng nghìn năm lịch sử, hệ thống sản xuất và quản lý sản xuất cũng phát triển theo, liên tục cải tiến để phù hợp hơn và ưu việt hơn, có thể khái quát lịch sử quản lý sản xuất như sau. Học viên : Vũ Quốc Hậu -5- Viện Kinh tế và Quản lý Luận văn thạc sỹ Trường đại học Bách khoa Hà Nội • Sản xuất thủ công: Sử dụng lao động có tay nghề cao, nhiều công cụ lao động, tạo ra sản phẩm đáp ứng theo nhu cầu khách hàng nhưng sản lượng sản xuất thấp và giá thành cao.
• Sản xuất hàng loạt: Sử dụng lao động có trình độ tay nghề thấp, sử dụng máy móc có tính chuyên dùng và đắt tiền, lao động có trình độ chuyên môn hóa cao. Việc sản xuất phải được duy trì liên tục và được duy trì trong thời gian càng lâu càng tốt. Kết quả là khách hàng có những sản phẩm với giá thành thấp nhưng nguy cơ sản xuất thừa là rất lớn, người công nhân thực hiện công việc một cách nhàm chán. • Sản xuất theo yêu cầu của khách hàng: Tổ chức sản xuất theo đơn đặt hàng của khách hàng, chủ yếu gia công các sản phẩm chứ không tổ chức kinh doanh hay phân phối sản phẩm.
• Sản xuất tinh gọn Lean Manufacturing ( Gọi tắt là LEAN) Sản xuất tinh gọn được hiểu theo nghĩa của từ Lean Manufacturing. Khác hẳn với các mô hình trước, Lean sử dụng công nhân làm việc đa năng, có thể sử dụng máy móc có độ tự động hóa và linh hoạt cao để sản xuất ra sản phẩm có số lượng lớn và đang dạng cao. Đối với sản xuất tinh gọn thì sản xuất dựa trên hợp đồng sản xuất và sản xuất theo hệ thống kéo. Yếu tố Sản xuất hàng loạt Lean Manufacturing Định hướng Theo nhà cung cấp Theo khách hàng Các đơn hàng đến với nhà Các đơn hàng được đưa đến nhà máy dựa trên yêu cầu khách Hoạch định máy dựa trên hoạch định và dự báo hàng hay nhu cầu của công sản xuất đoạn kế tiếp Qui mô mỗi lô Lớn Nhỏ Không có hoặc rất ít sản phẩm Tập hợp các công đoạn dở dang Hàng tồn kho dở dang giữa các công đoạn giữa các công đoạn sản xuất sản xuất Bàn giao sản Vật liệu sau mỗi khâu được tập Vật liệu được bàn giao trực Học viên : Vũ Quốc Hậu -6- Viện Kinh tế và Quản lý Luận văn thạc sỹ Trường đại học Bách khoa Hà Nội phẩm dở dang trung vào kho bán thành phẩm tiếp từ mỗi khâu cho khâu kế trước khi được đưa vào khâu kế tiếp tiếp Kỳ sản xuất sẽ mất nhiều thời gian Kỳ sản xuất được rút ngắn gần Thời gian chu kỳ hơn thời gian thật sự dành cho việc bằng thời gian dành cho việc sử lý các vật liệu xử lý vật liệu Kiểm soát chất Nhân viên kiểm soát chất lượng Công nhân kiểm tra trên dây lượng kiểm tra lấy mẫu ngẫu nhiên chuyền (Bảng 1: So sánh sản xuất hàng loạt và sản xuất theo Lean) 1.
Lịch sử hình thành Hệ thống sản xuất tinh gọn Vào những năm 80, có một sự thay đổi to lớn trong nền sản xuất công nghiệp Mỹ, Tây Âu và Nhật Bản. Công nghệ sản xuất hàng loạt và việc quản lý một cách khoa học được rất nhiều tổ chức nghiên cứu và áp dụng, trong đó nổi trội nhất là hệ thống just- in- time (JIT) của Toyota. Hệ thống này sau đó liên lục được phát triển rộng rãi và kế thừa tại các tập đoàn hàng đầu trên thế giới. Các nước phát triển Châu Á cũng đang tìm cách áp dụng các hệ thống sản xuất linh hoạt và tinh gọn nhằm tăng cường hiệu quả cạnh tranh tại thị trường đông dân này.
Bên cạnh đó nền sản xuất công nghiệp lâu đời tại Tây Âu và Mỹ sau một thời gian phát triển mạnh đã có dấu hiệu chựng lại do không nhìn thấy được tầm quan trọng của khách hàng trong việc phát triển mà chỉ tập trung vào việc tổ chức sản xuất hàng loạt. Các thuyết về qui luật giá trị không còn hợp thời gây ra các lãng phí về nguyên liệu, tài chính và thời gian… Dựa trên những nền tảng và mâu thuẫn đó các suy nghĩ về Lean ra đời lúc đầu là Lean Thinking ( suy nghĩ tinh gọn). Nội dung bao gồm: - Thay đổi cách nhìn từ việc tận dụng máy móc và con người. - Thực hiện việc thêm giá trị vào các nguyên công.
- Máy móc làm thay đổi cả thế giới. Suy nghĩ tinh gọn là làm thế nào để sản phẩm đến tay người tiêu dùng vẫn đảm bảo được giá trị cuối cùng (mục đích) của sản phẩm với giá cả thấp nhất. Theo khách hàng thì tất cả các hoạt động làm tăng giá trị của sản phẩm thì khách hàng phải trả một Học viên : Vũ Quốc Hậu -7- Viện Kinh tế và Quản lý Luận văn thạc sỹ Trường đại học Bách khoa Hà Nội chi phí phí hợp lý để thỏa mãn nhu cầu. Theo khảo sát thì cộng thêm nguyên vật liệu chỉ chiếm 5%.
Nhưng các chi phí tăng thêm như: tồn kho, trì hoãn, vận chuyển trong quá trình, kiểm định… chiếm tới 95% trong tổng chi phí tăng thêm của sản phẩm và dịch vụ. Đó chính là các lãng phí xảy ra bên nhà sản xuất, hệ thống phân phối sản phẩm và dịch vụ… 1.