Chương 1 trình bày lý do tác giả lựa chọn đề tài này để nghiên cứu đồng thời xây dựng nên một hệ thống những mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu,ý nghĩa của đề tài và bố cục của đề tài nghiên cứu. 6 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 2. Tiền gửi tiết kiệm tại ngân hàng thương mại 2. Khái niệm Ngân hàng thương mại (NHTM) ra đời cùng với sự phát triển của kinh tế hàng hóa, được coi là một sản phẩm được hình thành và phát triển cùng với sự phát triển của xã hội loài người.
Với trọng trách là một ngành kinh tế huyết mạch trong quá trình vận động nền kinh tế, ngành ngân hàng đã đóng vai trò hết sức quan trọng. Mọi sự thay đổi của NHTM đều có ảnh hưởng đến nền kinh tế. Ngân hàng là doanh nghiệp đặc biệt, là hệ thần kinh, là trái tim của nền kinh tế. Hudgins (2008) đã định nghĩa NHTM theo ba nội dung sau: (1) chức năng kinh tế, liên quan đến chức năng trung gian giữa người gửi tiền và người vay tiền; (2) dịch vụ cung cấp cho khách hàng như quản lý tài khoản, tiết kiệm, cho vay doanh nghiệp, cá nhân và chính phủ; (3) qui định pháp luật cơ bản để tồn tại, Chính phủ Liên bang ban hành qui định và giám sát hoạt động ngân hàng.
Như vậy, ngân hàng thương mại là tổ chức kinh doanh tiền tệ, với chức năng chủ yếu là nhận tiền gửi của khách hàng, cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán nhằm mục tiêu lợi nhuận. Trong quá trình hoạt động, NHTM thực hiện nhiều hoạt động khác nhau để duy trì sự tồn tại và phát triển.Trong đó, hoạt động huy động vốn nói chung và huy động tiền gửi tiết kiệm nói riêng là hoạt động rất quan trọng của NHTM. Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền của cá nhân được gửi vào tài khoản tiền gửi tiết kiệm, được xác nhận trên thẻ tiết kiệm, được hưởng lãi theo quy định của tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm và được bảo hiểm theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi. Về bản chất, đây là một phần thu nhập của cá nhân chưa được sử dụng tới.
Họ gửi vào ngân hàng với mục đích tích lũy tiền một cách an toàn và hưởng lãi suất theo quy định. Tiền gửi tiết kiệm là một dạng đặc biệt của tích lũy tiền tệ trong tiêu 7 dùng cá nhân. Hình thức phổ biến của loại tiền gửi này là tết kiệm có sổ. Người gửi tiền được ngân hàng cấp cho một quyển sổ dùng để theo dõi tiền gửi vào và rút ra, đồng thời quyển sổ này cũng chứng nhận số tiền đã gửi.
Quyển sổ này có thể đem cầm cố hoặc thế chấp vay vốn. Khách hàng gửi tiền tiết kiệm là người thực hiện giao dịch liên quan đến tiền gửi tiết kiệm. Khách hàng gửi tiền có thể là chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm hoặc đồng chủ sở hữu hoặc người giám hộ hoặc người đại diện theo pháp luật của chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm, đồng chủ sở hữu tiền gửi tiết kiệm. Khách hàng gửi tiền tiết kiệm có thể là cá nhân người Việt Nam hoặc cá nhân người nước ngoài đang sinh sống và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam hoặc các cá nhân người cư trú có nhu cầu gửi tiền ở ngân hàng vì các mục đích như tiết kiệm, sinh lời, an toàn,.
Như vậy, khách hàng gửi tiết kiệm là các cá nhân sử dụng sản phẩm, dịch vụ gửi tiết kiệm của các ngân hàng. Phân loại tiền gửi tiết kiệm Tiền gửi tiết kiệm ngân hàng gồm có tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn: - Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn là hình thức tiền gửi tiết kiệm mà người gửi tiền được rút tiền ra bất kỳ lúc nào, rút một phần hay toàn phần bằng tiền mặt hay thanh toán chuyển khoản. Sản phẩm tiền gửi tiết kiệm này được thiết kế dành cho đối tượng khách hàng cá nhân có tiền tạm thời nhàn rỗi muốn gửi NHTM vì mục tiêu an toàn và sinh lợi. NHTM phải đảm bảo tồn quỹ để chi trả và khó lên được kế hoạch sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng, vì vậy, NHTM thường trả lãi rất thấp cho loại tiền gửi này.
- Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn là hình thức tiền gửi tiết kiệm mà người gửi chỉ được rút ra sau một kỳ hạn nhất định. Đối tượng khách hàng chủ yếu là khách hàng cá nhân có thu nhập thường xuyên và ổn định. Mục tiêu quan trọng của nhóm khách hàng này là lợi tức có được theo định kỳ. Do vậy, mức lãi suất đóng vai trò quan trọng để thu hút được những khách hàng này, mức lãi suất thường cao hơn 8 mức lãi suất không kỳ hạn.
Bên cạnh đó, mức lãi suất từng loại kỳ hạn còn thay đổi theo thời gian tiền gửi, loại tiền gửi, tùy theo uy tín, rủi ro ngân hàng nhận gửi tiền. Đặc điểm của tiền gửi tiết kiệm Tiền gửi tiết kiệm có thời gian cụ thể: khi đến gửi tiền tiết kiệm, người gửi tiền sẽ lựa chọn kỳ hạn mà mình muốn gửi. Ngày cuối của mỗi kỳ hạn được gọi là ngày đến hạn, người gửi tiền tiết kiệm sẽ nhận lại được một khoản tiền gốc và lãi sau khi đã gửi cho ngân hàng một thời gian vào ngày này. Ngoài ra, người gửi tiền vẫn có thể chọn hình thức tiền gửi không kỳ hạn và có thể rút tiền bất cứ lúc nào theo nhu cầu sử dụng.
Tiền gửi tiết kiệm của người gửi được kiểm soát qua sổ tiết kiệm và thẻ tiết kiệm, là những vật dụng của các NHTM nhằm quản lý số tiền, lãi suất và kỳ hạn gửi tiết kiệm của người gửi tiền. Tiền gửi tiết kiệm có tính chất ổn định, an toàn. Người gửi tiền biết trước khoản tiền lãi mình sẽ được nhận sau khi gửi tiết kiệm, tiền gửi tiết kiệm được giữ an toàn trong ngân hàng và khi có nhu cầu gấp, có thể rút các khoản tiền gửi ra sử dụng và chỉ mất lãi suất được hưởng của kỳ hạn gửi đó. Vai trò của tiền gửi tiết kiệm Đối với NHTM: Nguồn vốn mà các NHTM huy động được từ tiền gửi tiết kiệm chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng nguồn vốn, góp phần cung cấp vốn cho các nghiệp vụ kinh doanh của NHTM như cho vay, tài trợ thương mại, kinh doanh ngoại tệ, thanh toán trong nước và quốc tế…tạo ra lợi nhuận cho NHTM.
Đối với khách hàng: Người gửi đến gửi tiền tiết kiệm tại các NHTM nhận được lợinhuận từ hưởng lãi, đảm bảo an toàn và tính thanh khoản cao cho tài sản của bản thân. Khi có nhu cầu sử dụng các dịch vụ khác của NHTM thì có thể tiếp cận dễ dàng hơn các đối tượng khách hàng khác. Đối với nền kinh tế: NHTM huy động được các khoản tiền gửi tiết kiệm nhàn rỗi, nhỏ lẻ trong nền kinh tế tạo thành nguồn vốn lớn đáp ứng đầy đủ các nhu cầu sử dụng vốn khác nhau của nền kinh tế, thúc đẩy kinh tế phát triển. Ngoài ra, thông 9 qua tỷ lệ dự trữ bắt buộc của nguồn vốn từ tiền gửi tiết kiệm, ngân hàng trung ương có thể điều hành hiệu quả các chính sách.
Các nguyên tắc huy động tiền gửi tiết kiệm - Tuân thủ pháp luật trong huy động tiền gửi tiết kiệm Pháp luật quy định về huy động tiền gửi tiết kiệm của các quốc gia có thể khác nhau, nhưng các quy định đều nhằm mục đích đảm bảo an toàn về khả năng chi trả cho các NHTM, tránh tình trạng các NHTM không được huy động vốn quá nhiều so với vốn tự có của mình và cũng nhằm giúp cho ngân hàng trung ương có thể thực hiện được chính sách quản lý của mình. Ở Việt Nam, các TCTD khi huy động vốn phải áp dụng các chính sách phù hợp đúng với cơ chế quản lý về lãi suất của NHNN, bởi thông qua công cụ lãi suất NHNN sẽ kiểm soát được lượng tiền trong lưu thông, bình ổn giá và chống lạm phát. Đồng thời, các NHTM phải có trách nhiệm hoàn trả gốc lẫn lãi cho khách hàng vô điều kiện do ngân hàng là tổ chức trung gian tín dụng (tín dụng là sự tín nhiệm, lòng tin, là quan hệ vay mượn theo nguyên tắc hoàn trả). NHTM phải tham gia bảo hiểm tiền gửi theo quy định hiện hành.
Bằng quy định này quyền lợi của người gửi tiền được bảo vệ. Cụ thể: nếu ngân hàng nơi người gửi tiền bị phá sản thì người gửi tiền được công ty bảo hiểm đền bù một khoản tiền nhất định (tại Việt nam, theo quy định tại nghị định số 89, 109 và luật số 06/2012/QH13 ngày 18 tháng 06 năm 2012, số tiền bảo hiểm được trả cho tất cả các khoản tiền gửi bao gồm gốc và lãi của một khách hàng gửi tiền là 50. Từ ngày 05/08/2017, số tiền bảo hiểm được trả cho tất cả các khoản tiền gửi bảo hiểm theo quy định của Luật bảo hiểm tiền gửi gồm cả gốc và lãi của một cá nhân tại một tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi là 75. Hơn nữa, ngân hàng phải giữ bảo mật thông tin của khách hàng, nhưng không được che dấu các khoản tiền lớn và bất thường.
Đồng thời các ngân hàng không được cạnh tranh bất hợp lý (đưa thông tin giả, khuyến mãi bất hợp pháp) gây ra tâm lý lo sợ, mất lòng tin của người dân đối với hệ thống ngân hàng. Một khi niềm tin 10 của người dân không còn, theo tâm lý đám động thì họ sẽ rút tiền hàng loạt gây ra rủi ro thanh khoản cho ngân hàng. - Công tác huy động vốn phải đáp ứng một cách kịp thời nhu cầu thanh khoản của NHTM: Hoạt động của ngân hàng chủ yếu dựa vào chữ tín. Vì vậy, để tạo chữ tín đối với khách hàng, ngân hàng phải đảm bảo khả năng thanh toán, đáp ứng kịp thời, đầy đủ nhu cầu rút tiền trong mọi tình huống theo yêu cầu của khách hàng gửi tiền.
Bên cạnh việc đảm bảo tốt khả năng thanh khoản, ngân hàng cần nắm bắt kịp thời những tin đồn thất thiệt trên thị trường về hoạt động kinh doanh ngân hàng và tìm cách ngăn ngừa chúng. Trong trường hợp đặc biệt khi có sự cố xảy ra, ngân hàng phải có phương án đáp ứng nhu cầu thanh khoản kịp thời (vay trên thị trường tiền tệ, vay NHNN) để tránh tâm lý hoang mang cho rằng mất khả năng thanh toán.