chương 1 sẽ được làm rõ hơn trong những chương tiếp theo 12 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Các khái niệm nghiên cứu 2. Khái niệm du lịch sinh thái và sản phẩm du lịch sinh thái Du lịch sinh thái (Ecotourism) là một khái niệm tương đối mới và đã mau chóng thu hút được sự quan tâm của nhiều người, thuộc các lĩnh vực khác nhau.
Đây là một khái niệm rộng, được hiểu khác nhau từ những góc độ khác nhau. Đối với một số người, du lịch sinh thái đơn giản được hiểu là sự kết hợp ý nghĩa của hai từ ghép du lịch và sinh thái vốn đã quen thuộc. Song đứng ở góc nhìn rộng hơn, tổng quát hơn thì một số người quan niệm DLST là du lịch thiên nhiên, là khái niệm mà trong thực tế đã xuất hiện từ đầu những năm 1800. Với khái niệm này, mọi hoạt động du lịch có liên quan đến thiên nhiên như tắm biển, nghỉ núi,… đều được hiểu là du lịch sinh thái.
(Lê Huy Bá, 2016) Du lịch sinh thái có thể còn được hiểu dưới những tên gọi khác như: Du lịch thiên nhiên (Nature Tourism)/ Du lịch dựa vào thiên nhiên (Natourism - Based Tourism)/ Du lịch môi trường (Enviromental Tourism)/ Du lịch đặc thù (Particular Tourism)/ Du lịch xanh (Green Tourism)/ Du lịch thám hiểm (Adventure Tourism)/ Du lịch bản xứ (Indigenous Tourism)/ Du lịch có trách nhiệm (Responsible Tourism)/ Du lịch nhạy cảm (Sensitized Tourism)/ Du lịch nhà tranh (Cottage Tourism)/ Du lịch bền vững (Sustainable Tourism) (Lê Huy Bá, 2016) Theo Tổng cục du lịch (1999), du lịch sinh thái có nghĩa là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa, gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nổ lực bảo tồn và phát triển bền vững, với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương. Các sản phẩm du lịch sinh thái: Sản phẩm du lịch là một tổng thể bao gồm các thành phần không đồng nhất hữu hình và vô hình, đó là tài nguyên tự nhiên, tài nguyên nhân văn, cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng dịch vụ du lịch và đội ngũ cán bộ nhân viên du lịch. Coltman (2010), sản phẩm du lịch có thể là một món hàng cụ thể như thức ăn, hoặc một món hàng không cụ thể như chất lượng phục vụ, bầu không khí tại nơi nghỉ mát. Theo đó có thể định nghĩa khái niệm sản phẩm du lịch sinh thái là một tổng thể bao gồm tài nguyên tự nhiên, tài nguyên nhân văn, cơ sở vật chất kỹ thuật, cơ sở hạ tầng dịch vụ và đội ngũ cán bộ nhân viên phục vụ cho du lịch sinh thái.
Cơ cấu của sản phẩm du lịch sinh thái: Những thành phần tạo lực hút (lực hấp dẫn đối với du khách) gồm nhóm tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nhân văn. Cơ sở du lịch (Điều kiện vật chất để phát triển ngành du lịch) gồm cơ sở hạ tầng kỹ thuật và cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch. Dịch vụ du lịch: là kết quả mang lại nhờ các hoạt động tương tác giữa những tổ chức cung ứng du lịch và khách du lịch và thông qua các hoạt động tương tác đó để đáp ứng nhu cầu của khách du lịch và mang lại lợi ích cho tổ chức cung ứng du lịch. Điểm đến du lịch Khái niệm về điểm đến du lịch là một phạm trù rất rộng.
Nó có thể là một châu lục (theo thống kê của Tổ chức du lịch thế giới như: Châu Mỹ, Châu Phi, Châu Âu…), là một khu vực như: khu vực ASEAN, là một đất nước, là một địa phương, là một thành phố, thị xã. Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (UN-WTO), đã đưa ra quan niệm về điểm đến du lịch (Tourism Destination): “Điểm đến du lịch là vùng không gian địa lý mà khách du lịch ở lại ít nhất một đêm, bao gồm các sản phẩm du lịch, các dịch vụ cung cấp, các tài nguyên du lịch thu hút khách, có ranh giới hành chính để quản lý và có sự nhận diện về hình ảnh để xác định khả năng cạnh tranh trên thị trường”. 14 Theo khoản 8, điều 4, chương 1 của Luật Du lịch Việt Nam (2017): “Điểm du lịch là nơi có tài nguyên du lịch hấp dẫn, phục vụ nhu cầu tham quan của khách du lịch”. Xem xét theo trong mối quan hệ kinh tế du lịch, điểm đến du lịch được hiểu là yếu tố cung du lịch, điểm đến du lịch là sự tập trung các tiện nghi và dịch vụ được thiết kế để đáp ứng nhu cầu của du khách.
Theo Vũ Đức Minh (2004), hầu hết các điểm đến du lịch bao gồm một hạt nhân cùng với các yếu tố cấu thành như sau: Các điểm hấp dẫn du lịch (attractions) Giao thông đi lại (khả năng tiếp cận nơi đến – access) Nơi ăn nghỉ (accommodation) Các tiện nghi và dịch vụ hỗ trợ (amenities) Điểm đến du lịch rất đa dạng về thể loại và dựa vào rất nhiều tiêu thức phân loại khác nhau. Có thể phân loại điểm đến du lịch theo những tiêu thức cơ bản sau: Phân loại điểm du lịch theo phạm vi địa lý: Điểm đến du lịch mang tính chất khu vực; điểm đến du lịch mang tính phạm vi quốc gia; điểm du lịch mang tính địa phương. Phân loại điểm đến du lịch dựa trên cơ sở tài nguyên du lịch: Các điểm đến du lịch dựa vào việc khai thác các tài nguyên du lịch tự nhiên: Điểm đến du lịch vùng biển, đảo; điểm đến du lịch vùng núi; điểm đến du lịch ở các vùng nước khoáng; điểm đến du lịch ở các vườn quốc gia; điểm đến du lịch là các làng quê, nông thôn. Các điểm đến du lịch dựa vào việc khai thác các tài nguyên du lịch nhân văn: điểm đến du lịch dựa trên việc khai thác các di tích lịch sử; điểm đến du lịch dựa trên các giá trị văn hóa phi vật thể; điểm đến du lịch dựa trên các giá trị tôn giáo; điểm đến du lịch do con người sáng tạo và xây dựng.
15 Phân loại điểm đến du lịch theo đánh giá của thị trường: điểm đến du lịch đã phát triển nhiều năm (trên 50 năm); những điểm đến du lịch mới phát triển trên thị trường du lịch quốc tế và khu vực. Lý thuyết về hành vi tiêu dùng trong du lịch 2. Định nghĩa hành vi tiêu dùng Cho đến nay, có rất nhiều quan điểm khác nhau về hành vi người tiêu dùng. và cộng sự (1997), hành vi người tiêu dùng là sự tương tác năng động của các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức, hành vi và môi trường mà qua sự thay đổi đó con người thay đổi cuộc sống của họ.
Theo Bennet (1988), hành vi của người tiêu dùng là những hành vi mà người tiêu dùng thể hiện trong việc tìm kiếm, mua, sử dụng, đánh giá sản phẩm và dịch vụ mà họ mong đợi sẽ thỏa mãn nhu cầu cá nhân của họ. và cộng sự (2000), hành vi của người tiêu dùng là một quá trình mô tả cách thức mà người tiêu dùng ra quyết định lựa chọn và loại bỏ một loại sản phẩm hay dịch vụ. Theo Kotler (2003), những người kinh doanh nghiên cứu hành vi người tiêu dùng với mục đích nhận biết nhu cầu, sở thích, thói quen của họ. Cụ thể là xem người tiêu dùng muốn mua gì, sao họ lại mua sản phẩm, dịch vụ đó, tại sao họ mua nhãn hiệu đó, họ mua như thế nào, mua ở đâu, khi nào mua và mức độ mua ra sao để xây dựng chiến lược marketing thúc đẩy người tiêu dùng lựa chọn sản phẩm, dịch vụ của mình.
Quá trình ra quyết định mua của người tiêu dùng Theo Kotler (2003), mô hình hành vi người tiêu dùng được mô hình trong hình 2. 16 Kích thích Kích thích Đặc điểm Quá trình ra Quyết định của marketing khác người mua quyết định người mua Sản phẩm – Kinh tế – Văn hóa – Nhận thức – Chọn sản Giá – Công – Xã hội vấn đề phẩm Địa điểm nghệ – Tâm lý – Tìm kiếm – Chọn công ty Chiêu thị – Chính trị Cá tính thông tin – Chọn đơn vị – Văn hóa – Đánh giá phân phối – Quyết định – Định thời gian Hành vi sau Định số lượng khi mua Hình 2.1 Mô hình hành vi người tiêu dùng (Kotler, 2003) Engel, J.F và cộng sự (1968) đã xây dựng một mô hình quá trình quyết định mua của người tiêu dùng. Nhận thức Tìm kiếm Đánh giá các Quyết định Hành vi sau nhu cầu thông tin phương án mua khi mua Hình 2.2 Mô hình hành vi mua của người tiêu dùng (Engel, J.F và cộng sự 1968) Theo nhóm tác giả này, quá trình quyết định mua của người tiêu dùng bao gồm 5 giai đoạn, đó là: Nhận thức nhu cầu: Đây là giai đoạn đầu tiên và quan trọng nhất trong tiến trình ra quyết định mua của người tiêu dùng. Nhu cầu của người tiêu dùng sẽ được phát sinh bởi nhiều yếu tố kích thích cả bên trong lẫn bên ngoài.
Tìm kiếm thông tin: Khi nhu cầu thôi thúc đủ mạnh, người tiêu dùng sẽ tìm kiếm thông tin liên quan đến sản phẩm và dịch vụ. Các nguồn thông tin cơ bản mà người tiêu dùng có thể tìm kiếm và tham khảo bao gồm: nguồn thông tin cá nhân; nguồn thông tin thương mại; nguồn thông tin đại chúng; nguồn thông tin kinh nghiệm thông qua tiếp xúc trực tiếp sản phẩm. Kết quả của việc thu thập thông tin là người tiêu dùng biết được các nhãn hiệu hàng hóa khác nhau có thể đáp ứng nhu cầu và các đặc tính của nhu cầu đó. 17 Đánh giá các phương án: Từ các nhãn hiệu sản phẩm khác nhau đã biết qua giai đoạn tìm kiếm, khách hàng bắt đầu đánh giá để chọn ra nhãn hiệu phù hợp với nhu cầu của mình.
Quyết định mua: Sau khi đánh giá các phương án, người tiêu dùng đi đến ý định mua. Tuy nhiên, từ ý định mua đến quyết định mua còn bị ảnh hưởng bởi các yếu tố kìm hãm, đó là: thái độ của người khác bao gồm gia đình, bạn bè … có thể làm tăng hoặc giảm niềm tin; và những yếu tố hoàn cảnh như rủi ro đột xuất, sự sẵn có của sản phẩm, giao dịch, thanh toán … Hành vi sau khi mua: Sau khi mua xong, khách hàng sử dụng sản phẩm và có các đánh giá về sản phẩm mua được. Mức độ hài lòng hay không hài lòng của người tiêu dùng sẽ tác động trực tiếp đến các quyết định mua vào các lần tiếp theo.