Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu. Chương này trình bày mục tiêu nghiên cứu của đề tài bao gồm mục tiêu chung và các mục tiêu cụ thể, câu hỏi nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa của đề tài nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu. Chương này trình bày một số lý thuyết về các nhân tố ảnh hưởng đến ý định mua nhà ở.
Bên cạnh đó, chương này đề xuất giả thuyết và mô hình nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương này trình bày phương pháp nghiên cứu bao gồm phương pháp thu thập số liệu, phương pháp chọn mẫu nghiên cứu và phương pháp phân tích. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận.
Chương này trình bày thống kê mô tả mẫu khảo sát và phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến ý định mua nhà ở trong 6 các khu dân cư của nhân viên Ngân hàng tại TP. Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị. Chương này trình bày những kết quả đạt được và đề xuất một số hàm ý quản trị nhằm nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu của Nhân viên Ngân hàng về nhà ở trong các khu dân cư trên địa bàn TP. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.
KHÁI NIỆM NHÀ Ở VÀ KHU DÂN CƯ Tại Khoản 1 Điều 3 Thông tư 23/2012/TT-BCA quy định về khu dân cư, xã, phường, thị trấn, cơ quan, doanh nghiệp, nhà trường đạt tiêu chuẩn “An toàn về an ninh, trật tự” do Bộ Công an ban hành thì: “Khu dân cư la nơi tập hợp Nhân viên Ngân hang, hộ gia đình cư trú tập trung trong phạm vi một khu vực nhất định, bao gồm: Thôn, xóm, lang, bản, ấp, buôn, phum, sóc, khóm, tổ dân phố va đơn vị dân cư tương đương”. Như vậy, về phương diện tổ chức, “khu dân cư” không phải là một cấp hành chính, nhưng dù tồn tại dưới hình thức, tên gọi nào, quy mô địa giới hành chính đến đâu thì “khu dân cư” vẫn có 3 đặc điểm chủ yếu sau: - “Khu dân cư” là một cấu trúc cộng đồng bao gồm: một số hộ gia đình tụ cư, sống đan xen trong một khu vực địa lý nhất định (thôn, xóm, bản, khu phố). Có “khu dân cư” tồn tại ổn định từ lâu đời, có “khu dân cư” mới đang trong quá trình hình thành, biến đổi. Tên gọi, cơ cấu địa giới, số lượng dân cư tùy theo yêu cầu, cách sắp xếp, bố trí của mỗi địa phương.
- Các hộ dân sinh sống ở “khu dân cư” ít phụ thuộc theo huyết thống, trái lại do yêu cầu cư trú mà có quan hệ gắn bó với nhau trong lao động sản xuất, sinh hoạt văn hóa, tinh thần, trong giao tiếp xã hội, tâm lý tư tưởng và ứng xử cộng đồng. - Các hộ dân sinh sống ở “khu dân cư” ngoài chịu tác động, chi phối của chủ trương, chính sách, pháp luật chung của Đảng, Nhà nước, còn chịu sự tác động, chi phối của bộ máy chính quyền địa phương, của “Hệ thống chính trị khu dân cư” cùng các phong tục, tập quán nơi mình cư trú, sinh sống”. Theo Luật nhà ở năm 2014, những khái niệm liên quan đến sở hữu, phát triển, quản lý, sử dụng, giao dịch, quản lý nhà nước về nhà ở được quy định cụ thể, rõ ràng như sau: 8 - Nha ở riêng lẻ: là nhà ở được xây dựng trên thửa đất ở riêng biệt thuộc quyền sử dụng hợp pháp của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, bao gồm nhà biệt thự, nhà ở liền kề và nhà ở độc lập. - Nha chung cư: là nhà có từ 2 tầng trở lên, có nhiều căn nhà, có lối đi, cầu thang chung, có phần sở hữu riêng, phần sở hữu chung và hệ thống công trình hạ tầng sử dụng chung cho các hộ gia đình, cá nhân, tổ chức, bao gồm nhà chung cư được xây dựng với mục đích để ở và nhà chung cư được xây dựng có mục đích sử dụng hỗn hợp để ở và kinh doanh.
- Nha ở thương mại: là nhà ở được đầu tư xây dựng để bán, cho thuê, cho thuê mua theo cơ chế thị trường. - Nha ở công vụ: là nhà ở được dùng cho các đối tượng thuộc diện được ở nhà công vụ trong thời gian đảm nhận chức vụ, công tác. - Nha ở xã hội: là nhà ở có sự hỗ trợ của Nhà nước cho các đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở. - Chủ sở hữu nha ở: là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có nhà ở hợp pháp thông qua các hình thức đầu tư xây dựng, mua, thuê mua, nhận tặng cho, nhận thừa kế, nhận góp vốn, nhận đổi nhà ở và các hình thức khác theo quy định pháp luật.
- Chủ sở hữu nha chung cư: là chủ sở hữu căn nhà chung cư, chủ sở hữu diện tích khác trong nhà chung cư. - Thuê mua nha ở: là việc người thuê mua thanh toán trước cho bên cho thuê mua 20% giá trị của nhà ở thuê mua, trừ trường hợp người thuê mua có điều kiện thanh toán trước thì được thanh toán không quá 50% giá trị nhà ở thuê mua; số tiền còn lại được tính thành tiền thuê nhà để trả hàng tháng cho bên cho thuê mua trong một thời hạn nhất định; sau khi hết hạn thuê mua nhà ở và khi đã trả hết số tiền còn lại thì người thuê mua có quyền sở hữu đối với nhà ở đó. - Nha ở có sẵn: là nhà ở đã hoàn thành việc đầu tư xây dựng và đưa vào sử dụng. 9 - Nha ở hình thanh trong tương lai: là nhà ở đang trong quá trình đầu tư xây dựng và chưa được nghiệm thu đưa vào sử dụng.
- Dự an đầu tư xây dựng nha ở: là tổng hợp các đề xuất có liên quan đến việc sử dụng vốn để xây dựng mới nhà ở, các công trình hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội phục vụ nhu cầu ở hoặc để cải tạo, sửa chữa nhà ở trên một địa điểm nhất định. - Phat triển nha ở: là việc đầu tư xây dựng mới, xây dựng lại hoặc cải tạo làm tăng diện tích nhà ở. - Cải tạo nha ở: là việc nâng cấp chất lượng, mở rộng diện tích hoặc điều chỉnh cơ cấu diện tích của nhà ở hiện có. - Bảo trì nha ở: là việc duy tu, bảo dưỡng nhà ở theo định kỳ và sửa chữa khi có hư hỏng nhằm duy trì chất lượng nhà ở.
KHÁI NIỆM Ý ĐỊNH MUA VÀ HÀNH VI TIÊU DÙNG Ý định hành động được định nghĩa bởi Ajzen (2002) là hành động của con người được hướng dẫn bởi việc cân nhắc 3 nhân tố niềm tin vào hành vi, chuẩn mực và sự kiểm soát. Các niềm tin này càng mạnh thì ý định hành động của con người càng lớn. Về ý định mua, Kotler và Amstrong (2004) đã biện luận rằng, trong giai đoạn đánh giá phương án mua, người tiêu dùng cho điểm các thương hiệu khác nhau và hình thành nên ý định mua. Nhìn chung, ý định mua người tiêu dùng là họ sẽ mua sản phẩm của thương hiệu họ ưa chuộng nhất.
Tuy nhiên có 2 nhân tố có thể cản trở ý định mua trở thành hành vi mua đó là thái độ của những người xung quanh và các tình huống không mong đợi. Người tiêu dùng có thể hình thành ý định mua dựa trên các nhân tố như thu nhập mong đợi, giá bán mong đợi, tính năng sản phẩm mong đợi. Một số nghiên cứu trước đây đã chỉ ra những sự khác biệt giữa ý định mua và ý định mua (Warshaw, 1980; Mullett và Karson, 1985). Sự khác biệt đó nằm trong 10 nhận thức của khách hàng.
Tuy nhiên, điều đó không đồng nghĩa với việc những nghiên cứu về ý định mua không có ý nghĩa. Wu và Teng (2011) xác định ý định mua là tiềm năng trong kế hoạch mua một sản phẩm hoặc dịch vụ cụ thể trong tương lai. Điều thú vị là cả ý định mua và ý định mua đều ở hai giai đoạn khác nhau trong lý thuyết hành vi tiêu dùng, tuy nhiên có một mối liên hệ quan trọng giữa cả hai giai đoạn này, đặc biệt là liên quan đến mua nhà (Ajzen, 1991; Han và Kim, 2010; Kunshan và Yiman, 2011). Theo Ajzen (1991), ý định được coi là bao gồm các nhân tố động lực dẫn đến một hành vi cụ thể mà ý định sẽ cho biết một người đã thực hiện bao nhiêu để thực hiện hành vi.
Nói cách khác, nếu một người có ý định cao đối với một cái gì đó, họ sẽ có nhiều khả năng tăng hiệu suất để có được những gì họ dự định làm ban đầu. Do đó, ý định mua nhà ở trong nghiên cứu này được định nghĩa là cách người tiêu dùng sẵn sàng mua nhà trong tương lai gần, phù hợp với định nghĩa của Ajzen (1991). Hành vi tiêu dùng là “hành vi mà người tiêu dùng thực hiện trong việc tìm kiếm, mua, sử dụng, đánh giá và xử lý các sản phẩm, dịch vụ và ý tưởng mà họ cho rằng sẽ đáp ứng nhu cầu của họ”. Quá trình ra ý định mua của người tiêu dùng rất phức tạp.
Tìm hiểu về hành vi mua của người tiêu dùng là không dễ, bởi vì, thường thường, bản thân người tiêu dùng cũng không biết chính xác những gì sẽ ảnh hưởng đến quá trình mua hàng của họ (Kotler & Amstrong, 2005). Hành vi mua nhà ở của người tiêu dùng là hành vi mua đặc biệt lại càng phức tạp do đặc điểm của nhà ở là sản phẩm có giá trị rất lớn, ý định mua đặc biệt quan trọng. Mua một căn nhà để ở là một trong những ý định kinh tế quan trọng nhất của Nhân viên Ngân hàng ở mọi vị trí công tác, vì vậy, người mua thường đòi hỏi phải thu thập và tổng hợp rất nhiều thông tin về các tính năng, chất lượng, cơ sở vật chất, thiết kế, giá và môi trường xung quanh,. Cho đến nay, đã có nhiều nghiên cứu nhằm khám phá đặc điểm hành vi mua nhà ở và các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi này.
Ý định mua là dấu hiệu cho thấy sự sẵn sàng của một người để thực hiện hành vi mua, và nó được coi là tiền đề trực tiếp của hành vi mua. Ý định là dấu hiệu bằng 11 lòng thực hiện hành vi của con người và nó là tiền đề trực tiếp của hành vi. Ý định mua là biến số phụ thuộc bị ảnh hưởng bởi thái độ đối với sản phẩm. Do đó, trong trường hợp mua nhà ở ý định mua nhà ở là tiền đề của ý định mua.