chương 1, tác giả giới thiệu tổng quan về một số công trình nghiên cứu trong nước và ngoài nước liên quan đến việc vận dụng EMA cũng như các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng EMA. Từ đó, tác giả xác định được khoảng trống cho nghiên cứu để tiến hành nghiên cứu luận văn của tác giả tại Việt Nam.1 Các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài 1.1 Các nghiên cứu ngoài nước Trên thế giới có khá nhiều nghiên cứu về EMA, có thể kể đến các nghiên cứu tiêu biểu như sau: - Chang (2007) với nghiên cứu “Enviromental management accounting within universities: current state and future potential” đã tiến hành nghiên cứu kinh nghiệm của nhà quản trị từ năm trường đại học để khám phá các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định áp dụng EMA trong lĩnh vực giáo dục đại học. Tác giả đã xem xét bốn lý thuyết đã được chấp nhận để hướng dẫn việc thu thập dữ liệu và tập trung vào nghiên cứu gồm lý thuyết dự phòng, lý thuyết thể chế, lý thuyết hợp pháp, lý thuyết các bên liên quan. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng, có năm rào cản ảnh hưởng đến việc áp dụng EMA là : thái độ, tài chính, thông tin, thể chế và quản lý.
- Setthasakko (2010) với bài nghiên cứu “Barriers to the development of environmental management accounting - An exploratory study of pulp and paper companies in Thailand” đã nghiên cứu các nhân tố chính ảnh hưởng đến việc áp dụng kế toán quản trị môi trường trong công ty sản xuất giấy và bột giấy tại Thái Lan. Nghiên cứu xác định ba yếu tố ảnh hưởng chính: vai trò của nhà quản trị, chia sẻ kiến thức, xây dựng hình ảnh công ty. Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp, kết hợp cả phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng. Thông qua phương pháp nghiên cứu hỗn hợp, tác giả có thể có được một các toàn diện hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng EMA.
Các nhà quản lý trong các công ty sản xuất giấy ở Thái Lan có xu hướng tập trung vào ngắn hạn hơn so với dài hạn. Họ cũng không xem xét những yếu tố tiêu cực xảy LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 ra trong hoạt động của mình đối với xã hội và cộng đồng. Họ chỉ tập trung vào lợi ích kinh tế hơn là lợi ích xã hội. Ngoài ra, nghiên cứu này cũng chỉ ra rằng kế toán Thái Lan ngại thay đổi và tìm hiểu kiến thức mới.
Họ cho rằng nhân viên môi trường mới là người có đủ điều kiện để tham gia các vấn đề môi trường còn nhiệm vụ của họ là ghi chép sổ sách kế toán. Sự hạn chế phát triển EMA là do thiếu kiến thức về môi trường và kinh nghiệm kế toán. - Bài nghiên cứu “Understanding environmental management accouting (EMA) adoption: a new institutional sociology perspective” của tác giả Jalaludin, Sulaiman and Ahmad (2011), kế thừa thang đo từ DiMaggio and Powell (1983) để tập trung giải thích mối quan hệ giữa các áp lực thuộc lý thuyết thể chế và việc vận dụng EMA. Từ kết quả bảng khảo sát các nhân viên kế toán, tác giả tiến hành phân tích thông tin và nhận thấy rằng áp lực cưỡng chế không có mối quan hệ đáng kể đến việc vận dụng EMA.
Nhưng trong cuộc phỏng vấn chuyên sâu lại cho thấy kết quả ngược lại. Cụ thể, kế toán viên được phỏng vấn nói rằng họ bị áp lực bởi khách hàng, cổ đông, cơ quan đầu ngành và chính phủ về hiệu quả môi trường. Còn nhân tố áp lực quy chuẩn và việc áp dụng EMA có mối quan hệ với nhau trong kết quả từ bảng phân tích khảo sát, còn kết quả từ phỏng vấn chuyên sâu không cho thấy mối quan hệ giữa hai biến này. Cuối cùng, cả hai kết quả từ phỏng vấn và khảo sát đều kết luận rằng nhân tố áp lực mô phỏng không có mối quan hệ đáng kể đến vận dụng EMA.
- Bài nghiên cứu: “Environmental management accouting: the signficance of contigency variables for adoption” của Christ and Buritt (2013). Nghiên cứu này thực hiện nhằm điều tra về việc các DN có nhận thức được tầm quan trọng của EMA hay không? Tác giả dựa trên lý thuyết ngẫu nhiên để xác định tầm ảnh hưởng của các biến như cấu trúc tổ chức, quy mô tổ chức, chiến lược môi trường, ngành công nghiệp đến việc áp dụng EMA của các DN Australia. Kết quả thu được từ quá trình khảo sát dựa trên web của kế toán viên Úc và phân tích dữ liệu đã chỉ ra rằng: ngành công nghiệp, chiến lược môi trường và quy mô tổ chức tác động cùng chiều LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 đến việc thực hiện EMA, ngược lại cấu trúc tổ chức lại không có mối quan hệ đến việc thực hiện EMA. Phát hiện này hỗ trợ cho các nghiên cứu trong tương lai để hiểu biết thêm về EMA cũng như sự phát triển của nó.
- Alkisher (2013) với bài nghiên cứu “Factors influencing invironmental management accounting adoption in oil and manufacturing firm in Libya”, nhằm điều tra các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng EMA. Dựa trên cơ sở các lý thuyết nền, tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu đã đưa ra tám nhân tố ảnh hưởng bao gồm: chiến lược công ty, hỗ trợ từ nhà quản trị cấp cao, áp lực quy chuẩn, áp lực cưỡng chế, áp lực từ các bên liên quan, tính hợp pháp, tính chính thức. Thông qua phân tích kết quả điều tra từ nhà quản lý môi trường và giám đốc tài chính của DN, cho thấy rằng nhân tố trình độ, thâm niên công tác, độ tuổi có ảnh hưởng đến việc vận dụng EMA. Ngoài ra, tác giả cũng cho rằng nhân tố hỗ trợ từ nhà quản trị cấp cao, tổ chức, môi trường và công nghệ có ảnh hưởng tích cực đến việc áp dụng EMA tại các doanh nghiệp trong ngành sản xuất dầu ở Lybia.
Nhân tố chiến lược kinh doanh và văn hóa tổ chức đặc trưng tại các doanh nghiệp có tác động ngược chiều đến việc áp dụng EMA. - Bài nghiên cứu: “Factors influencing the adoption of environmental management accounting Practices among firms in Nairobi, Kenya” của Wachira (2014). Bài nghiên cứu nhằm kiểm định các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng EMA bao gồm: (1) qui mô công ty, (2) trình độ công nghệ, (3) chi phí tuân thủ các qui định môi trường, (4) thời gian hoạt động của công ty, (5) chiến lược môi trường, (6) thành quả tài chính đến mức độ áp dụng EMA tại các DNSX ở Nairobi, Kenya. Dựa trên các lý thuyết nền tảng, tác giả xây dựng mô hình và tiến hành khảo sát thông qua bảng câu hỏi để thu thập thông tin.
Kết quả phân tích mô hình hồi quy cho thấy chiến lược môi trường, thành quả tài chính, chi phí tuân thủ các quy định môi trường của DN có ảnh hưởng đến mức độ áp dụng EMA. Mặt khác, nhân tố áp lực từ các bên liên quan, ngành công nghiệp cũng là yếu tố thúc đẩy việc vận dụng EMA. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 - Bài nghiên cứu “Environmental management accouting practices in small medium manufacuring firms” của tác giả Jamil, Mohamed, Muhammed and Ali (2015). Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp nghiên cứu định lượng để tiến hành kiểm định ba biến độc lập: Áp lực cưỡng chế, áp lực quy chuẩn và áp lực mô phỏng ảnh hưởng đến việc vận dụng EMA tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Malaysia.
Lý thuyết thể chế được sử dụng và dữ liệu được thu thập thông qua bảng câu hỏi khảo sát, đối tượng là nhà quản lý của các DN vừa và nhỏ. Kết quả phân tích mô tả và hồi quy cho thấy nhân tố chủ đạo ảnh hưởng đến việc áp dụng EMA đó là tính cưỡng chế, việc gia tăng áp lực cưỡng chế của chính phủ sẽ ảnh hưởng tích cực đến ý định và áp dụng EMA trong các DNSX tại Malaysia, hai biến còn lại là áp lực mô phỏng và áp lực quy chuẩn không có mối liên hệ nào đến việc vận dụng EMA. Phát hiện này trái ngược với nghiên cứu của Jalaludin và cộng sự (2011). Tuy nhiên, nghiên cứu này phát hiện ra nhân tố hạn chế về tài chính là rào cản chính cho sự phát triển EMA.
Đồng thời, kiến thức về môi trường, kỹ năng và thiếu hướng dẫn cũng là một rào cản trong việc vận dụng các vấn đề môi trường vào hệ thống kế toán. - Bài nghiên cứu: “The use and effectiveness of environmental management accounting” của Phan et al (2017). Nghiên cức này xem xét mức độ vận dụng EMA và ảnh hưởng tính toàn diện của hệ thống quản lý môi trường (EMS), quy mô tổ chức và sự hỗ trợ của quản lý cấp cao đối với việc vận dụng EMA. Ngoài ra, tác giả cũng điều tra tác động của hiệu suất môi trường.
Với việc khảo sát 208 các công ty trong các ngành công nghiệp khác nhau tại Úc, kết quả cho thấy rằng: các tổ chức áp dụng hệ thống EMS toàn diện hơn thì có mức cam kết môi trường cao hơn và có nhiều khả năng cung cấp các nguồn lực tốt hơn để tạo thuận lợi cho sự phát triển của EMA. Quy mô tổ chức và mức độ sử dụng EMA không có mối tương quan với nhau. Cuối cùng, với thang đo gồm 4 biến quan sát được kết thừa từ Krumwiede (1998), Grover (1993) và Baird et al (2007) đã kết luận sự hỗ trợ từ nhà quản lý cấp cao ảnh hưởng đến việc vận dụng EMA. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.2 Các nghiên cứu trong nước Qua khảo sát lý thuyết, tác giả nhận thấy rằng tại Việt Nam kế toán quản trị môi trường (EMA) còn khá mới mẻ và có rất ít công trình nghiên cứu, tiêu biểu có một số nghiên cứu liên quan đến đề tài như sau: - Trịnh Hiệp Thiện, luận văn thạc sĩ Đại học Kinh Tế TP HCM (2010): “Vận dụng kế toán quản trị môi trường vào các doanh nghiệp sản xuất Việt Nam”, bằng việc tìm hiểu về thực trạng vận dụng EMA tại các DNSX Việt Nam.
Đề tài đã kết luận rằng: mặc dù các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay quan tâm nhiều đến công tác tổ chức EMA, tuy nhiên việc vận dụng còn quá thấp nguyên nhân chính là do sự thiếu hiểu biết từ nhà quản trị cấp cao, thiếu kinh nghiệm tổ chức điều này là một thách thức lớn cho các DN Việt Nam trong quá trình tiến hành vận dụng EMA. Thêm vào đó, số lượng và chất lượng thông tin liên quan đến môi trường được các DN công bố ra bên ngoài còn hạn chế.