Chương 1 giới thiệu về chung về mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn, đồng thời nêu lên những ý nghĩa thực tiễn và mục tiêu nghiên cứu của đề tài này. Giới thiệu về lĩnh vực quản lý dự án, lĩnh vực về đầu tư công trình xây dựng của đất nước ta hiện nay, các yếu tố khách quan và chủ quan của tình hình phát triển xã hội, tình hình kinh tế chính trị của thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng. 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở lý thuyết về dự án, quản lý dự án 2.
Dự án Có nhiều định nghĩa khác nhau về dự án, tuỳ theo quan điểm nghiên cứu của mỗi tác giả. Các định nghĩa về dự án tuy cách phát biểu có khác nhau nhưng nhìn chung khá thống nhất. Theo Đinh Tuấn Hải – NXBXD Hà Nội 2013, một dự án được hiểu là một công việc với các đặc tính sau; cần tới nguồn lực (như con người, tiền chi phí và máy móc), có mục tiêu cụ thể, phải được hoàn thành với thời gian và chất lượng định trước, có thời điểm khởi đầu và kết thúc rõ ràng, có khối lượng phần việc cần thực hiện cụ thể, có ngân sách hạn chế và là sự kết nối hợp lý của nhiều phần việc lại với nhau. Đây là một định nghĩa chung cho các loại dự án, nhưng đôi khi nó lại không phù hợp với thực tế.
Một dự án cụ thể có thể đã có thời điểm khởi đấu rõ ràng, nhưng khối lượng công việc đã thay đổi làm cho thời gian hoàn thành cứ bị chậm và chậm mãi không biết đến bao giờ kết thúc. Và tất nhiên ngân sách chi tiêu cho dự án cũng thay đổi theo. Chỉ có một phần của định nghĩa trên phù hợp với thực tế của tất cả các dự án đó là một công việc theo thời gian bao gồm sự kết nối hợp lý của nhiều phần việc. Các công việc lặp lại hoặc thực hiện công việc đơn lẻ nhiều lần không phải là một dự án.
Tuy nhiên, có một khối lượng lớn các công việc được xác định đủ điều kiện để gọi là dự án. Và điều này có nghĩa là sẽ có một số lượng lớn con người đang quản lý dự án (hoặc tối thiểu là đang cố gắng thực hiện công việc quản lý dự án). Trong khi đó, Luật xây dựng (2014) định nghĩa dự án đầu tư xây dựng công trình là tập hợp các đề xuất liên quan đến việc sử dụng vốn để tiến hành hoạt động xây dựng, để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo những công trình xây dựng nhằm mục đích phát triển, duy trì, nâng cao chất lượng công trình hoặc sản phẩm, dịch vụ trong thời hạn và chi phí xác định. Quản lý dự án Tác giả cho rằng, theo hướng dẫn về những kiến thức cốt lõi trong Quản lý dự án (PMBOK Guide) của Viện Quản lý Dự án (PMI) là rõ ràng nhất: Quản lý dự án là việc áp dụng các kiến thức, kỹ năng, công cụ và kỹ thuật vào các hoạt động của dự án nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra.
Mục tiêu đề ra của dự án trong điều kiện bị 7 ràng buộc theo một phạm vi công việc nhất định (khối lượng và các yêu cầu kỹ thuật), nhưng phải đạt thời gian hoàn thành đề ra (tiến độ thực hiện), đúng ngân sách (mức vốn đầu tư) cho phép và đáp ứng các chuẩn mực (chất lượng) mong đợi. QLDA cũng có những chức năng giống với quản lý chung. Tuy nhiên, ngày nay QLDA đã được nghiên cứu và phát triển sâu hơn và đã có nhiều tác giả, tổ chức chuyên về QLDA đề xuất những công cụ, kỹ thuật riêng nhằm áp dụng vào việc QLDA và do đó QLDA có thể được tách thành một lĩnh vực độc lập với quản lý chung. Quản lý dự án đầu tư xây dựng gồm: Lập, thẩm định, phê duyệt dự án, thực hiện dự án, kết thúc xây dựng đưa công trình của dự án vào khai thác sử dụng.
Qua đó, quản lý dự án đầu tư xây dựng là quá trình lập kế hoạch, theo dõi và kiểm soát tất cả những vấn đề của một dự án đồng thời điều hành mọi thành phần tham gia vào dự án đó để đạt được mục tiêu của dự án đúng thời hạn trong phạm vi ngân sách. Quản lý dự án vừa mang tính khoa học vừa mang tính nghệ thuật. Nghệ thuật ở chỗ QLDA đòi hỏi phải có sự tương tác giữa con người với con người. Do tính khoa học của QLDA nên ngày nay đã có rất nhiều kỹ năng, công cụ khác nhau được phát triển để áp dụng cho việc QLDA.
Theo quy trình QLDA của Học viện QLDA Hoa Kỳ PMI (2018) đã nhấn mạnh đến việc ứng dụng các công cụ (tools) và kỹ thuật (technichques) trong QLDA. PMI (2018) đã xây 9 lĩnh vực và 5 nhóm quy trình QLDA. Các công cụ và quy trình này đã được nhiều tổ chức và các chuyên gia trên thế giới áp dụng trong công việc hàng ngày của họ. 5 nhóm quy trình chính của QLDA theo PMI (2018) bao gồm: - Nhóm quy trình bắt đầu dự án (initiating group process); - Nhóm quy trình lập kế hoạch dự án (planning group process); - Nhóm quy trình thực hiện dự án (executing group process); - Nhóm quy trình kiểm soát dự án (monitoring& controlling group process); - Nhóm quy trình kết thúc dự án (closing group process).
PMI xây dựng 9 lĩnh vực QLDA mà một nhà quản lý cần được trang bị kiến thức cũng như phải quan tâm đúng mức để giúp quản lý thành công dự án của mình, 9 lĩnh vực này bao gồm: 8 - Quản lý phạm vi/yêu cầu của dự án (scope management); - Quản lý tiến độ thực hiện dự án (time management); - Quản lý chi phí dự án (cost management); - Quản lý chất lượng dự án (quality management); - Quản lý rủi ro dự án (risk management); - Quản lý truyền thông dự án (communication management); - Quản lý nguồn nhân lực (human resource management); - Quản lý mua sắm/đấu thầu/hợp đồng (procurement management); - Quản lý tích hợp (integration management). Bên cạnh đó, theo Điều 66 Luật Xây dựng (2014) quy định nội dung QLDA đầu tư xây dựng bao gồm: quản lý về phạm vi, kế hoạch công việc, khối lượng công việc, chất lượng xây dựng, tiến độ thực hiện, chi phí đầu tư xây dựng, an toàn trong thi công xây dựng, bảo vệ môi trường trong xây dựng, lựa chọn nhà thầu và hợp đồng xây dựng, quản lý rủi ro, quản lý hệ thống thông tin công trình và các nội dung cần thiết khác được thực hiện theo quy định. Qua đó, ta thấy Luật Xây dựng tại thời điểm hiện tại quy định nội dung về QLDA đầu tư xây dựng rất sát và rộng hơn so với quy trình quốc tế, bảo đảm kiểm soát được khối lượng công việc từ khi triển khai thực hiện dự án đầu tư trước xây dựng cho đến khi hoàn thành bàn giao công trình đưa vào sử dụng. Vòng đời dự án Hay còn gọi là trình tự thực hiện đầu tư xây dựng được quy định cụ thể như sau: a) Giai đoạn chuẩn bị dự án gồm các công việc: khảo sát xây dựng; lập, thẩm định, Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi, quyết định hoặc chấp thuận chủ trương đầu tư (nếu có); lập, thẩm định, phê duyệt quy hoạch chi tiết xây dựng phục vụ lập Báo cáo nghiên cứu khả thi đầu tư xây dựng, lập, thẩm định Báo cáo nghiên cứu khả thi để phê duyệt/quyết định đầu tư xây dựng và thực hiện các công việc cần thiết khác liên quan đến chuẩn bị dự án.
b) Giai đoạn thực hiện dự án gồm các công việc: chuẩn bị mặt bằng xây dựng, rà phá bom mìn (nếu có), khảo sát xây dựng, lập, thẩm định, phê duyệt thiết kế, dự toán xây dựng, cấp giấy phép xây dựng (đối với công trình theo quy định phải có giấy phép xây dựng), lựa chọn nhà thầu và ký kết hợp đồng xây dựng, thi công xây dựng công trình, giám sát thi công xây dựng, tạm ứng, thanh toán khối lượng hoàn thành, 9 vận hành, chạy thử, nghiệm thu hoàn thành công trình xây dựng, bàn giao công trình đưa vào sử dụng và các công việc cần thiết khác. c) Giai đoạn kết thúc xây dựng gồm các công việc: Quyết toán hợp đồng xây dựng, quyết toán dự án hoàn thành, xác nhận hoàn thành công trình, bảo hành công trình xây dựng, bàn giao các hồ sơ liên quan và các công việc cần thiết khác (Điều 50 Luật Xây dựng năm 2014). Theo thời gian phát triển của dự án từ giai đoạn khởi tạo dự án cho đến kết thúc dự án thì sự thay đổi chi phí thực hiện dự án tăng dần, có nghĩa là giai đoạn đầu thì tốc độ thay đổi chi phí của dự án không nhiều, nhưng chính giai đoạn đầu này là giai đoạn mà các bên liên quan tác động nhiều đến dự án nhất. Càng về sau, khi dự án đã được xác định rõ ràng thì ảnh hưởng của các yếu tố này càng giảm dần.
Nguồn PMI(2008) Nguồn: Viện QLDA Hoa Kỳ PMI (2018) Hình 2.1: Ảnh hưởng của các biến theo thời gian thực hiện dự án 2. Các hình thức quản lý dự án Theo Điều 62 Luật xây dựng (2014) của Việt Nam quy định hình thức tổ chức QLDA đầu tư xây dựng thì CĐT quyết định áp dụng một trong các hình thức tổ chức QLDA sau: - Ban QLDA đầu tư XD chuyên nghành, Ban QLDA đầu tư xây dựng khu vực. - Ban QLDA đầu tư xây dựng một dự án. - Chủ đầu tư sử dụng bộ máy chuyên môn trực thuộc.
- Tổ chức tư vấn QLDA độc lập. Các nội dung QLDA Điều 66 Luật Xây dựng (2014) quy định nội dung QLDA đầu tư xây dựng bao gồm: - Quản lý về phạm vi của dự án; - Quản lý về kế hoạch công việc; - Quản lý về khối lượng công việc; - Quản lý về chất lượng xây dựng; - Quản lý về tiến độ thực hiện; - Quản lý về chi phí đầu tư xây dựng; - Quản lý về an toàn trong xây dựng; - Quản lý về bảo vệ môi trường xây dựng; - Quản lý về lựa chọn nhà thầu và hợp đồng xây dựng; - Quản lý rủi ro - Quản lý hệ thống thông tin và các nội dung cần thiết khác. Quản lý phạm vi dự án: Những thay đổi trong quy mô hay phạm vi của dự án sẽ làm dự án thất bại. Quản lý quy mô dự án bao gồm: ủy quyền công việc, phân chia công việc theo những quy mô có thể quản lý được, kiểm soát bằng cách so sánh kết quả thực hiện với kế hoạch, xác định quy trình thủ tục khi phải thay đổi quy mô dự án.