phần mở đầu, tài liệu tham khảo và phụ lục, kết cấu của luận văn gồm 03 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về các yếu tố ảnh hƣởng đến sự hài lòng đối với công việc của nhân viên y tế. Chƣơng 2:Phân tích các yếu tố ảnh hƣởng đến sự hài lòng đối với công việc của nhân viên y tế tại Bệnh viện đa khoa Thái Thụy, tỉnh Thái Bình. Chƣơng 3: Định hƣớng phát triển và giải pháp tăng cƣờng sự hài lòng đối với công việc của nhân viên y tế tại Bệnh viện đa khoa Thái Thụy, tỉnh Thái Bình. 9 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN SỰ HÀI LÒNG ĐỐI VỚI CÔNG VIỆC CỦA NHÂN VIÊN Y TẾ 1.
Một số khái niệm cơ bản 1. Nhân viên y tế Nhân viên y tế hay còn gọi là ngƣời cung cấp dịch vụ y tế bao gồm toàn bộ số lao động hiện đang công tác trong các cơ sở y tế (kể cả công và tƣ, kể cả biên chế và hợp đồng) nhƣ: bác sỹ, dƣợc sỹ, y sỹ, điều dƣỡng, hộ sinh, kỹ thuật viên, y tế công cộng. Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới, nhân viên y tế là những ngƣời trực tiếp cung cấp dịch vụ y tế, nhân viên quản lý và nhân viên khác (WHO, 2006). Theo đó, nhân viên y tế dự phòng tham gia trực tiếp cung cấp dịch vụ y tế dự phòng bao gồm: bác sĩ, điều dƣỡng, dƣợc sĩ, y sĩ, kỹ thuật viên xét nghiệm, nhân viên không tham gia trực tiếp cung cấp dịch vụ y tế nhƣ nhân viên các phòng chức năng kế toán-tài chính, kế hoạch, cấp dƣỡng, lái xe, hộ lý.
Tuy vậy, nghiên cứu này tập trung quan tâm đến mức độ hài lòng của nhân viên y tế trực tiếp cung cấp dịch vụ y tế, bao gồm bác sĩ, điều dƣỡng, dƣợc sĩ, y sĩ, kỹ thuật viên xét nghiệm của Bệnh viện đa khoa Thái Thụy, tỉnh Thái Bình. Sự hài lòng đối với công việc của nhân viên y tế 1. Sự hài lòng của nhân viên đối với công việc Hài lòng đối với công việc (job satisfaction) đƣợc định nghĩa là cảm nhận của một ngƣời về việc thích hay không thích công việc và môi trƣờng làm việc mà họ đang làm. Nhƣ vậy, hài lòng đối với công việc là sự nhận thức và đánh giá mang tính chủ quan của một ngƣời.
10 Theo Mitchell và Lason (1987), sự hài lòng đối với công việc là một trong những vấn đề quan trọng của hành vi tổ chức đã đƣợc nhiều nhà nghiên cứu trên khắp thế giới quan tâm. Locke và Latham (1990) đề xuất rằng sự hài lòng với công việc là một cảm xúc quan tâm hay tích cực hƣớng tới trải nghiệm và cảm xúc làm việc của cá nhân. Theo hƣớng này, sự hài lòng với công việc là thái độ hình thành từ cách mà nhân viên đánh giá những việc họ làm để mang đến những giá trị đƣợc cho rằng quan trọng với tổ chức và chính họ. Theo Spector (1997), sự hài lòng với nghề nghiệp là cách mà nhân viên cảm nhận về công việc và các khía cạnh liên quan đến công việc, hay nói cách khác, là mức độ mà nhân viên yêu thích (hài lòng) hoặc không thích (không hài lòng) công việc của mình.
Robbins và Judge (2018) cho rằng sự hài lòng đối với công việc nhắm đến cảm nhận chung của cá nhân đối với công việc của bản thân. Một ngƣời có mức độ hài lòng cao đối với công việc sẽ có thái độ tích cực đối với công việc, trong khi ngƣời có mức độ hài lòng thấp với công việc sẽ có thái độ tiêu cực. Theo Dessler (2019), sự hài lòng với công việc là phản ứng cảm xúc đối với các khía cạnh khác nhau của công việc. Trong một góc nhìn khác, Schmidt (2007) đề xuất rằng sự hài lòng đối với công việc là trạng thái trong đó nhân viên có định hƣớng rõ ràng và hiệu quả đối với công việc trong tổ chức.
Có thể thấy, sự hài lòng với công việc đƣợc định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, khi đƣợc xem xét dƣới những khía cạnh và chuyên ngành khác nhau. Trong nghiên cứu này, sự hài lòng đối với công việc đƣợc đánh giá là khả năng nhân viên có thể thể hiện toàn bộ khả năng, năng lực và hiệu quả trong công việc, mà vẫn cảm thấy thoải mái và hài lòng với công việc họ đang làm, đồng thời cảm thấy thỏa mãn khi nhận đƣợc thu nhập tƣơng xứng với công sức mà mình đã bỏ ra. Sự hài lòng đối với công việc của nhân viên y tế Nguồn nhân lực y tế là một trong những yếu tố quan trọng nhất của tất cả cơ sở y tế. Quan trọng hơn, mức độ hiệu quả và năng suất làm việc của một tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào khả năng làm việc của nhân viên (Ali Jadoo, 2015; Franco LM, 2002).
Sự hài lòng đối với công việc của nhân viên y tế là một trong những yếu tố quan trọng nhất của cơ sở y tế, ảnh hƣởng đến chất lƣợng chăm sóc bệnh nhân, kết quả của chăm sóc y tế và cam kết của nhân viên đối với cơ sở (Adam A, 2000; Newman K, 2001). Nhƣ đã nhắc đến trong định nghĩa, nhân viên y tế là những ngƣời cung cấp dịch vụ và chăm sóc cho ngƣời bệnh trực tiếp nhƣ bác sĩ và điều dƣỡng; hoặc gián tiếp nhƣ phụ tá, kĩ thuật viên phòng thí nghiệm, nhân viên quản lý chất thải y tế(Joseph B, 2016). Nhiều nghiên cứutrên thế giới đã chỉ ra rằng sự hài lòng với công việc của nhân viên y tế chịu ảnh hƣởng của nhiều yếu tố nhƣ thu nhập, đồng nghiệp, môi trƣờng làm việc, cơ hội thăng tiến (Abate HK, 2021) Các nghiên cứu khác cũng chỉ ra vai trò quan trọng của sự hài lòng với công việc trong mối quan hệ với năng suất làm việc, các mối quan hệ đồng nghiệp và sức khỏe thể chất và tinh thần (Appleton K, 1998). Khi nhân viên hài lòng với công việc, họ làm việc hiệu quả hơn.
Sự hài lòng với công việc của nhân viên y tế đã đƣợc chứng minh rằng có mối liên quan chặt chẽ với sự hài lòng của ngƣời bệnh, và góp phần vào nâng cao dịch vụ chăm sóc sức khỏe (Van Ham I, 2006). Một số học thuyết liên quan đến sự hài lòng đối với công việc của nhân viên y tế Nhƣ đã nói ở trên, có thể thấy đã có rất nhiều khái niệm khác nhau về sự hài lòng đối với công việc của nhân viên. Bản thân khái niệm này đã đƣợc các nhà nghiên cứu tiếp cận, nghiên cứu qua nhiều khía cạnh, tiêu chí khác nhau. Mỗi cách tiếp cận mang lại một khía cạnh của sự hài lòng trong công 12 việc, cũng nhƣ những lý giải riêng về mức độ cũng nhƣ những yếu tố tạo nên sự hài lòng của nhân viên.
Các yếu tố tác động tới sự hài lòng trong công việc của nhân viên, ngƣời lao động đƣợc giải thích trong các học thuyết nổi tiếng nhƣ: Học thuyết nhu cầu của Abraham Harold Maslow, học thuyết kỳ vọng của Vroom, học thuyết hai yếu tố của Herzberg… Phần tiếp theo của luận văn sẽ đi vào nội dung của một số học thuyết, từ đó đƣa ra cơ sở để ngƣời quản lý có thể hiểu về cách thức cũng nhƣ các phƣơng pháp tác động đến lòng trung thành của nhân viên, làm cho các nhân viên hài lòng và đạt hiệu quả cao trong công việc. Học thuyết nhu cầu của Abraham Harold Maslow (1943) Năm 1943, trong tác phẩm “A Theory of Human Motivation”, Abraham Maslow (1908-1970) đã đề xuất một trong những lý thuyết mà sau này có tầm ảnh hƣởng vô cùng rộng rãi và đƣợc ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, đó là lý thuyết về thứ bậc nhu cầu của con ngƣời (hierarchy of needs). Hệ thống nhu cầu này của Maslow đƣợc sử dụng để nghiên cứu cách con ngƣời thực sự tham gia vào hành vi cũng nhƣ động lực của họ. Ngoài ra, học thuyết này là cơ sở chính để hiểu đƣợc nỗ lực và động lực có tƣơng quan nhƣ thế nào khi thảo luận về hành vi của con ngƣời.
Trong học thuyết này, ông chia hệ thống nhu cầu thành năm nhóm khác nhau theo thứ tự từ thấp đến cao (Biểu đồ 1.1), trong đó mỗi cấp bậc riêng lẻ phải đƣợc thỏa mãn thì con ngƣời mới quan tâm đến những cấp độ cao hơn phía trên, và ở mức độ cao nhất là cấp độ muốn tự thể hiện bản thân: - Mức đầu tiên: Nhu cầu sinh học: bao gồm các nhu cầu sinh lý cơ bản, cần thiết nhất để đảm bảo sự tồn tại của con ngƣời nhƣ thức ăn, nƣớc uống, quần áo, nơi ở, khả năng sinh sản phát triển nòi giống. Đây cũng là nhu cầu quan trọng nhất của mỗi ngƣời để có thể duy trì cuộc sống, do đó cũng có mức độ cần thiết cao nhất. 13 - Mức thứ hai: Nhu cầu đảm bảo an toàn, an ninh: bao gồm các nhu cầu cần thiết để đảm bảo cuộc sống an toàn, đƣợc phát triển đầy đủ và không bị đe dọa, thông qua mong muốn về sự ổn định trong cuộc sống nhƣ sống trong khu vực an ninh tốt, xã hội có pháp luật, có nhà cửa để ở. Tiếp đó là các nhu cầu an toàn khác nhƣ không bị đe dọa về tài sản, công việc, sức khỏe, gia đình… Trong trạng thái bình thƣờng, không bị đe dọa, nhu cầu này thể hiện ở việc con ngƣời thƣờng mua các loại bảo hiểm cho bản thân và gia đình, sống ở khu vực đƣợc đảm bảo an ninh tốt.
- Mức thứ ba: Nhu cầu kết nối, xã hội: hƣớng tới sự hoàn thiện và đƣợc đáp ứng về mặt tình cảm nhiều hơn vật chất. Nhu cầu này đòi hỏi con ngƣời phải đƣợc giao tiếp, chấp nhận và yêu thƣơng, yêu và đƣợc yêu. Nhu cầu này thể hiện qua quá trình giao tiếp nhƣ kết bạn, tìm ngƣời yêu, kết hôn, đi làm, tham gia câu lạc bộ… Nhu cầu này cho thấy con ngƣời có nhu cầu giao tiếp để phát triển. - Mức thứ tƣ: Nhu cầu đƣợc đánh giá và tôn trọng: đƣợc xã hội nhìn nhận và tôn trọng, đƣợc có tiếng nói và vị trí trong nhiều phạm vi từ nhỏ đến lớn, hoặc thể hiện qua lòng tự trọng, quyền tự chủ, các thành tựu.
Đây là yếu tố giúp con ngƣời nỗ lực phát triển lên các vị trí cao hơn trong xã hội. - Mức thứ năm: Nhu cầu thể hiện bản thân và tự hoàn thiện: cũng là mức cao nhất, ở đây, con ngƣời sẽ muốn tìm và làm những điều họ mong muốn nhất mà không cồn phụ thuộc vào bất cứ yếu tố nào.