Chương 1 đã trình bày cụ thể tổng quan về cơ sở hình thành đề tài cũng như mục tiêu, phạm vi, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa của đề tài. Chương 2 này sẽ trình bày cơ sở lý thuyết về sự hài lòng của nhân viên. Từ đó xác định mô hình và thang đo cho đề tài. Chương 2 bao gồm các phần chính: các quan niệm về sự hài lòng của nhân viên, lý thuyết về sự hài lòng của nhân viên, một số nghiên cứu về sự hài lòng của nhân viên, thiết lập mô hình nghiên cứu.
Các quan niệm về sự hài lòng của nhân viên Trước đây đã có rất nhiều quan niệm về sự hài lòng được các nhà nghiên cứu đưa ra. Theo Schultz (1982), sự hài lòng đối với công việc cơ bản là quyết định tâm lý của mọi người đối với công việc của họ (trích dẫn bởi Travis G. Worrell, 2004), hay cảm giác của một cá nhân về công việc của mình (Smith và cộng sự, 1969) (trích dẫn bởi Travis G. Theo Schermerhorn và các cộng sự (2000), sự hài lòng đối với công việc là mức độ mà mỗi cá nhân cảm thấy tích cực hay tiêu cực đối với công việc của họ (trích dẫn bởi Lộc, 2010).
Siegal và Lance (1987) cho rằng hài lòng đối với công việc là biểu hiện cảm xúc xác định mức độ mà mỗi người thích công việc của họ (trích dẫn bởi Travis G. Theo một số tác giả khác sự hài lòng của nhân viên được thể hiện ở bản chất công việc, Vroom (1982) cho rằng: sự hài lòng trong công việc là trạng thái mà người lao động có định hướng trong công việc hiện tại của họ (trích dẫn bởi Travis G. Theo Dormann và Zapf (2001) hài lòng đối với công việc là thái độ thích thú đối với lãnh đạo và đội ngũ lãnh đạo (trích dẫn bởi Lộc, 2010). Theo Locke (1968), sự hài lòng trong công việc là các trạng thái phấn khởi của người lao động khi công việc đạt được thành tựu hoặc có điều kiện thuận lợi để đạt được thành tích hoặc kinh nghiệm trong công việc.NGUYỄN THỐNG HV:PHẠM VŨ QUỲNH THẢO LUẬN VĂN THẠC SĨ 8 Các khái niệm được nêu ở trên chỉ mới xét đến sự hài lòng của nhân viên ở mức độ đánh giá cảm nhận chủ quan của cá nhân về công việc, chưa xem xét rõ ràng các nguyên nhân dẫn đến sự hài lòng của nhân viên.
Các nghiên cứu sau đã thể hiện một cách rõ ràng hơn các nguyên nhân ảnh hưởng đến sự hài lòng của nhân viên. Theo Abu và Bader (2000), sự hài lòng hay không hài lòng là một chức năng của mối quan hệ giữa cái mà một người mong đợi từ công việc mà họ đang làm và cái mà họ thật sự nhận được (trích dẫn bởi Lộc, 2010). Theo Lofquist và Davis (1991) thì xác định sự hài lòng đối với công việc là "phản ứng cảm xúc tích cực của một cá nhân về môi trường mục tiêu. như là một kết quả đánh giá cá nhân về mức độ mà nhu cầu của họ được đáp ứng bởi môi trường đó” (trích dẫn bởi Travis G.
Theo Ivacevich và Matterson (2004), sự hài lòng khi làm việc tại một tổ chức là thái độ của con người về công việc của họ, đó là kết quả của sự chấp nhận trong công việc và mức độ phù hợp nhất giữa cá nhân và tổ chức (trích dẫn bởi Lộc, 2010). Wexley vàYukl(1984), cho rằng sự hài lòng của nhân viên bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, bao gồm các đặc điểm cá nhân và đặc điểm của công việc (trích dẫn bởi Travis G. Lý thuyết về sự hài lòng của nhân viên Các lý thuyết sử dụng để nghiên cứu sự hài lòng của nhân viên: - Lý thuyết về thứ bậc nhu cầu (Hierarchy of Needs Theory) của Abraham Maslow (1943): lý thuyết này được nhà tâm lý học Abraham Maslow đưa ra vào năm 1943. Trong lý thuyết này, ông sắp xếp các nhu cầu của con người theo một hệ thống trật tự cấp bậc, trong đó, các nhu cầu ở mức độ cao hơn muốn xuất hiện thì GVHD: PGS.NGUYỄN THỐNG HV:PHẠM VŨ QUỲNH THẢO LUẬN VĂN THẠC SĨ 9 các nhu cầu ở mức độ thấp hơn phải được thỏa mãn trước.
Trong thời điểm đầu tiên của lý thuyết, Maslow đã sắp xếp các nhu cầu của con người theo 5 cấp bậc: Nhu cầu cơ bản, nhu cầu về an toàn, nhu cầu về xã hội, nhu cầu về quý trọng, nhu cầu về thể hiện mình. Hệ thống cấp bậc nhu cầu của Maslow thường được thể hiện dưới dạng một hình kim tự tháp, các nhu cầu ở bậc thấp thì càng xếp phía dưới.1: Mô hình Maslow - Thuyết ERG của Clayton Alderfer: lý thuyết của Alderfer (1969) bao gồm 3 nhu cầu là nhu cầu tồn tại, nhu cầu liên kết, nhu cầu phát triển. Nhìn chung lý thuyết này giống như thuyết cấp bậc nhu cầu của Maslow, trong đó cũng dựa trên việc đáp ứng các như cầu con người (Wren, 1995 dẫn theo P. Tuy nhiên có một số khác biệt như sau: thứ nhất, số lượng nhu cầu được rút gọn còn ba thay vì năm; thứ hai, khác với Maslow, Alderfer cho rằng, có thể có nhiều nhu cầu xuất hiện trong cùng một thời điểm (Maslow cho rằng chỉ có một nhu cầu xuất hiện ở một thời điểm nhất định); thứ ba, là yếu tố bù đắp giữa các nhu cầu, một nhu cầu không được đáp ứng có thể được bù đắp bởi nhu cầu khác.
- Thuyết hai nhân tố (Two-Factor Theory) của Frederick Herzberg: từ cuối những năm 1950, F. Henzberg được cho là người tiên phong trong lý thuyết động GVHD: PGS.NGUYỄN THỐNG HV:PHẠM VŨ QUỲNH THẢO LUẬN VĂN THẠC SĨ 10 viên. Ông đã phỏng vấn một nhóm nhân viên và phát hiện ra nguyên nhân tạo nên sự bất mãn và thỏa mãn với công việc. Henzberg đã phát triển một lý thuyết rằng: có 2 yếu tố ảnh hưởng đến hành vi nhân viên, đó là nhân tố động viên và nhân tố duy trì (nhân tố vệ sinh) (Gail Carr, 2005).
Nhân tố duy trì không tạo ra sự tăng trưởng trong khả năng sản xuất của nhân viên, mà chúng chỉ ngăn chặn những tổn thất do những hạn chế của công việc gây ra khi nhân viên vận hành công việc. Các nhân tố tạo sự động viên (hay động viên) là các nhân tố tạo cảm giác về thành tích, sự trưởng thành và phát triển nghề nghiệp, sự công nhận, trách nhiệm cao, thử thách trong công việc. Henzberg đã sự dụng thuật ngữ này bởi vì những yếu tố ấy dường như có khả năng ảnh hưởng tích cực đến sự thỏa mãn công việc và thường dẫn tới việc nâng cao sản phẩm đầu ra của người đó (trích dẫn theo P. Các nhân tố duy trì như điều kiện làm việc, tiền lương, công việc lâu dài, chính sách của công ty, lãnh đạo, mối quan hệ giữa các cá nhân, được xem là những yếu tố tác động từ bên ngoài.
Nhiều nhân tố tạo động viên bên trong như thành tích, sự công nhận, bản chất công việc, sự chịu trách nhiệm, phát triển và thăng tiến, dường như có mối quan hệ với sự thỏa mãn công việc. Trong khi các nhân tố tạo động viên bên ngoài như vị trí, sự an toàn, chính sách công ty, nhà quản lý, tiền công thù lao, người giám sát, môi trường làm việc và các mối quan hệ với đồng nghiệp có khuynh hướng liên quan đến sự bất mãn công việc. Theo ông, bằng cách tạo ra những yếu tố động viên trong công việc con người sẽ thấy thỏa mãn với công việc.27 trích dẫn từ French, 2003; Nwetrom & Davis, 1989; Oosthuizen, 2001; Swanepoel et al, 1998). Henzberg (1959) đã đề nghị rằng đối lập với sự thỏa mãn không phải là sự bất mãn công việc.
Nếu loại bỏ được các yếu tố gây bất mãn công việc (các nhân tố duy trì) sẽ không nhất thiết tạo nên sự thỏa mãn. Các nhân tố duy trì khi đươc thỏa mãn có xu hướng loại bỏ bất mãn trong công việc nhưng chúng ít thúc đẩy cá nhân vươn tới những đặc tính vận hành cao hơn hoặc khả năng cao hơn. Nghĩa là, các GVHD: PGS.NGUYỄN THỐNG HV:PHẠM VŨ QUỲNH THẢO LUẬN VĂN THẠC SĨ 11 nhân tố duy trì không thể tạo động viên thúc đẩy nhân viên nhưng nó có thể giảm thiểu sự bất mãn công việc. Theo Henzberg (1959), để con người có được sự động viên, cần nhấn mạnh đến các nhân tố như: thành tích, sự công nhận, bản chất công việc, sự chịu trách nhiệm, phát triển và thăng tiến.
Bởi vì sự thỏa mãn các sự động viên sẽ cho phép con người lớn lên và phát triển một cách chắc chắn, thông thường làm tăng khả năng tiềm lực của con người (trích dẫn theo P. - Lý thuyết ảnh hưởng (Affect Theory) của Edwin A. Locke: lý thuyết về sự ảnh hưởng được phát triển bởi Edwin A. Cơ sở của lý thuyết ảnh hưởng là những nhân tố của công việc được xem trọng khác nhau khi nhân viên thấy rằng thu nhập hiện tại của họ gần với mức mong đợi.
- Mô hình nội dung công việc (Job Characteristics Model) của Hackman và Oldham: Hackman và Oldham (1974) đã xây dựng mô hình này nhằm xác định cách thiết kế công việc sao cho người lao động có được động lực làm việc ngay từ bên trong họ cũng như tạo được sự thỏa mãn công việc nói chung và tạo được hiệu quả công việc tốt nhất. Để xây dựng được thiết kế công việc như thế, theo hai nhà nghiên cứu này công việc trước hết phải sử dụng nhiều kỹ năng khác nhau, người nhân viên phải nắm rõ công việc từ đầu đến cuối và công việc phải có tầm quan trọng nhất định. Ba điều này sẽ mang lại ý nghĩa trong công việc cho người lao động cũng như mang lại sự thú vị cho họ. Kế đến, công việc phải cho phép nhân viên thực hiện một số quyền nhất định nhằm tạo cho nhân viên cảm nhận được trách nhiệm về kết quả công việc của mình.
Cuối cùng, công việc phải đảm bảo có tính phản hồi từ cấp trên, ghi nhận thành tựu của nhân viên cững như góp ý, phê bình nhằm giúp nhân viên làm tốt hơn ở lần sau. Nó giúp nhân viên biết được kết quả công việc mình làm. Các lý thuyết đã được trình bày ở trên cho thấy rằng các nhà nghiên cứu khác nhau có cái nhìn khác nhau về các nhân tố mang lại sự hài lòng của nhân viên và đều có ý nghĩa ứng dụng đối với nghiên cứu này.NGUYỄN THỐNG HV:PHẠM VŨ QUỲNH THẢO LUẬN VĂN THẠC SĨ 12 2. Đo lường sự hài lòng của nhân viên Sự hài lòng của nhân viên có thể đo lường ở mức độ chung, cũng có thể đo lường sự hài lòng với từng thành phần của công việc.