Chương 1: Giới thiệu chung về lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa của đề tài và cấu trúc của đề tài. Chương 2: Trình bày tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm trước đây trên thế giới và ở Việt Nam về lợi nhuận và các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng. Chương 3: Trình bày dữ liệu nghiên cứu, mô hình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Trình bày kết quả nghiên cứu và thảo luận kết quả nghiên cứu Chương 5: Tóm tắt lại kết quả nghiên cứu của đề tài và trình bày một số kiến nghị chính sách, giới hạn của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo.
5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƯƠNG 2 – TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TRƯỚC ĐÂY VỀ LỢI NHUẬN VÀ NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN LỢI NHUẬN CỦA NGÂN HÀNG 2. Tổng quan các nghiên cứu trước đây Trong các nghiên cứu thực nghiệm trước đây, hiệu quả hoạt động của ngân hàng (lợi nhuận) thường được diễn tả bằng hàm số của các yếu tố bên trong và yếu tố bên ngoài ngân hàng. Yếu tố bên trong là những yếu tố thuộc về đặc điểm nội tại của ngân hàng. Yếu tố bên ngoài là những biến không liên quan đến việc quản lý ngân hàng, thay vào đó các biến này đại diện cho các yếu tố kinh tế vĩ mô và môi trường pháp lý có tác động đến hoạt động và kết quả tài chính của ngân hàng.
Nhiều biến giải thích đã được đề xuất cho cả hai yếu tố này tùy thuộc vào mục đích và bản chất của mỗi nghiên cứu. Các nghiên cứu về hiệu quả hoạt động của ngân hàng thường phân tích hệ thống ngân hàng ở nhiều quốc gia hoặc ở một quốc gia. Nhóm các nghiên cứu ở phạm vi nhiều quốc gia có thể kể đến Short (1979), Bourke (1989), Molyneux và Thornton (1992) và Demirguc-Kunt and Huizinga (2000). Nhóm các nghiên cứu ở phạm vi một quốc gia cụ thể thường nghiên cứu về hệ thống ngân hàng ở Hoa Kỳ (thí dụ, Berger et al., 1987), Châu Âu (thí dụ, Athanasoglou et al., 2005 và Kosmidou et al., 2007) hoặc ở các quốc gia đang phát triển (thí dụ Barajas et al., 1999; Ali et al., 2010; Deger Alper và Adem Anbar, 2011).
Đặc điểm chung của các nghiên cứu này xem xét ảnh hưởng của các yếu tố nội tại của ngân hàng và các yếu tố kinh tế vĩ mô và môi trường pháp lý đến lợi nhuận của ngân hàng. Kết quả nghiên cứu thực hiện là khác nhau do mẫu nghiên cứu và môi trường nghiên cứu khác nhau. Tuy nhiên đặc điểm chung của các nghiên cứu đã cho phép phân loại các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng. Các yếu tố nội tại của ngân hàng được sử dụng như quy mô ngân hàng, vốn chủ sở hữu, quản trị rủi ro và chi phí quản lý.
Quy mô ngân hàng được sử dụng để đại diện cho độ lớn của ngân hàng hoặc thị phần. Smirlock (1985) đã tìm thấy bằng 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chứng về mối tương quan thuận đáng kể giữa quy mô ngân hàng và lợi nhuận của ngân hàng. Demirguc-Kunt và Huizinga (2000) cho rằng mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tài chính, pháp lý và các nhân tố khác đến lợi nhuận của ngân hàng có mối liên kết chặt chẽ với quy mô ngân hàng. Bên cạnh đó, Short (1979) tranh luận rằng quy mô ngân hàng có quan hệ mật thiết với vốn chủ sở hữu của ngân hàng vì các ngân hàng lớn thường huy động vốn với chi phí rẻ hơn, do đó có lợi nhuận cao hơn.
Với lập luận tương tự, Bikker và Hu (2002), Goddard et al. (2004) và một số nhà nghiên cứu khác đã cho thấy mối quan hệ giữa quy mô ngân hàng, đặc biệt trong trường hợp ngân hàng nhỏ và vừa, với vốn chủ sở hữu do đó có mối quan hệ với lợi nhuận. Tuy nhiên, một số nhà nghiên cứu lại cho rằng việc tăng quy mô của ngân hàng chỉ giúp tiết kiệm được chi phí rất ít (Berger et al. Nhu cầu quản trị rủi ro trong lĩnh vực ngân hàng là thiết yếu cho hoạt động của ngân hàng.
Chất lượng tài sản thấp và khả năng thanh khoản thấp là hai nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự sụp đổ của ngân hàng. Trong giai đoạn mà sự mất ổn định tăng lên, các tổ chức tài chính có thể quyết định đa dạng hóa danh mục đầu tư và/hoặc tăng nắm giữ các tài sản có khả năng thanh khoản cao nhằm mục đích giảm rủi ro. Dựa trên quan điểm này, rủi ro có thể được phân chia thành rủi ro tín dụng và rủi ro thanh khoản. Molyneux and Thornton (1992) đã tìm thấy mối tương quan nghịch đáng kể giữa khả năng thanh khoản và lợi nhuận.
Ngược lại, nghiên cứu của Bourke (1989) lại cho kết quả là khả năng thanh khoản có mối tương quan thuận với lợi nhuận, nhưng mối quan hệ tương quan nghịch giữa rủi ro tín dụng và lợi nhuận là khá rõ ràng (Miller and Noulas, 1997). Kết quả này có thể được giải thích dựa trên thực tế là các tổ chức tín dụng đã có nhiều khoản cho vay có rủi ro cao. Điều này có nghĩa là các tổ chức tín dụng sẽ phải gánh chịu các khoản lỗ do không thu hồi được khoản cho vay nên đã làm giảm lợi nhuận. Đối với các yếu tố kinh tế vi mô và môi trường pháp lý ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng, các nghiên cứu thực nghiệm thường sử dụng các chỉ tiêu như lạm phát, lãi suất và tốc độ tăng trưởng của tổng sản phẩm quốc nội.
Revell (1979) là người giới thiệu mối quan hệ giữa lợi nhuận của ngân hàng và lạm phát. Ông ta 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ghi chú rằng ảnh hưởng của lạm phát đến lợi nhuận của ngân hàng tùy thuộc vào tỷ lệ tăng của lương nhân viên ngân hàng và các chi phí hoạt động khác có nhanh hơn tỷ lệ lạm phát hay không. Câu hỏi là nền kinh tế của một quốc gia đã phát triển đến mức nào và tỷ lệ lạm phát trong tương lai có thể được dự báo đúng đắn đến đâu và do đó ngân hàng có thể quản lý chi phí hoạt động của chúng. Dựa trên quan điểm này, Perry (1992) cho rằng mức độ lạm phát ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng tùy thuộc vào khả năng dự báo đúng đắn tỷ lệ lạm phát trong tương lai.
Tỷ lệ lạm phát trong tương lai có thể được ước tính bởi ngân hàng, điều này có nghĩa là ngân hàng có thể điều chỉnh tỷ lệ lãi suất để đảm bảo mức độ tăng của doanh thu là nhanh hơn mức độ tăng của chi phí, do đó ngân hàng có thể kiếm được nhiều lợi nhuận hơn. Phần lớn các nghiên cứu cho thấy mối tương quan thuận giữa lợi nhuận với tỷ lệ lạm phát hoặc tỷ lệ lãi suất dài hạn. Ngoài ra, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội thực tế hàng năm là chỉ số rất thường được sử dụng để đại diện cho yếu tố kinh tế vĩ mô. Các nghiên cứu trước đây thường cho thấy mối tương quan thuận giữa lợi nhuận ngân hàng và tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội thực tế hàng năm.
Các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới gần đây 2. John Goddard, Phil Molyneux và John Wilson (2004) John Goddard, Phil Molyneux và John Wilson (2004) nghiên cứu lợi nhuận của các ngân hàng Châu Âu của những năm 1990. Các tác giả sử dụng biến phụ thuộc để nghiên cứu là chỉ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE). Các biến độc lập của mô hình là quy mô ngân hàng, tài sản ngoài bảng cân đối kế toán và vốn chủ sở hữu.
Dữ liệu nghiên cứu bao gồm 665 ngân hàng từ sáu nước Châu Âu (Đan Mạch, Pháp , Đức,Ý, Tây Ban Nha và Anh) trong giai đoạn 1992 – 1998. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng quy mô ngân hàng không có ảnh hưởng đáng kể đến lợi nhuận của ngân hàng. Kết quả này cũng phù hợp với các nghiên cứu trước đó rằng hiệu quả quản lý chi phí hoạt động có ảnh hưởng lớn đến lợi nhuận ngân hàng hơn là quy mô ngân hàng. Kết quả cũng cho thấy sự khác biệt giữa các 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quốc gia về mối quan hệ giữa các tài sản ngoài bảng cân đối kế toán trong danh mục đầu tư và lợi nhuận của ngân hàng.
Thí dụ, ở nước Anh, các tài sản ngoài bảng cân đối kế toán có mối tương quan thuận với lợi nhuận của ngân hàng. Tuy nhiên, ở các quốc gia khác thì mối quan hệ này là tương quan nghịch hoặc trung tính. Đồng thời, các tác giả cũng đã tìm thấy mối tương quan thuận giữa biến vốn chủ sở hữu và lợi nhuận ngân hàng.Brissimis và Matthaios D.Brissimis và Matthaios D.Delis (2005) đã kiểm tra các yếu tố tài chính, chỉ số ngành và chỉ số kinh tế vĩ mô tác động đến lợi nhuận của ngân hàng Hy Lạp trong giai đoạn 1985 – 2001. Các tác giả đã sử dụng biến lợi nhuận trên tài sản (ROA) đại diện cho lợi nhuận của ngân hàng.
Các biến độc lập thì được chia thành 3 nhóm. Nhóm các chỉ số tài chính của từng ngân hàng như vốn ngân hàng, rủi ro tín dụng, tăng trưởng năng suất, quản lý chi phí hoạt động và quy mô ngân hàng. Nhóm chỉ số ngành ngân hàng gồm quyền sở hữu (ownership) và sự tập trung (concentration). Nhóm các chỉ số nền kinh tế vĩ mô gồm chỉ số lạm phát và chỉ số chu kỳ sản lượng (cyclical output).
Kết quả nghiên cứu cho thấy vốn ngân hàng và tăng trưởng năng suất có mối tương quan thuận với lợi nhuận của ngân hàng, mối tương quan này có ý nghĩa thống kê. Tiếp theo rủi ro tín dụng và quản lý chi phí hoạt động có tương quan nghịch đối với lợi nhuận. Tuy nhiên kết quả nghiên cứu cho thấy quy mô ngân hàng không có ảnh hưởng lớn đến lợi nhuận ngân hàng. Nhóm chỉ số ngành công nghiệp như biến quyền sở hữu và sự tập trung ảnh hưởng không đáng kể đến lợi nhuận của ngân hàng.
Nhóm các chỉ số nền kinh tế vĩ mô gồm chỉ số lạm phát và chu kỳ sản lượng ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của ngành ngân hàng. Panayiotis Athanasoglou, Matthaiois D.Delis và Christos K.Staikouras (2006) Panayiotis Athanasoglou, Matthaiois D.Delis và Christos K.Staikouras (2006) 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghiên cứu các yếu tố quyết định lợi nhuận ngân hàng tại khu vực Đông Nam Châu Âu giai đoạn 1998 – 2002.