Chương 1: GIỚI THIỆU VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU Chương này giới thiệu một cách tổng quan về đề tài, bao gồm tính cấp thiết, mục tiêu, câu hỏi, ý nghĩa, đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu và giới thiệu bố cục của đề tài Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Giới thiệu các lý thuyết liên quan đến đề tài và lý luận về mô hình, giả thuyết nghiên cứu đề xuất. Chương 3: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU Trình bày sâu vào phương pháp, quy trình nghiên cứu, nghiên cứu định lượng, định tính, thực hiện xây dựng thang đo cách đánh giá cho các khái niệm trong mô hình. Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 9 Trình bày kết quả thu được sau khi tiến hành khảo sát và phân tích dữ liệu thu thập, tóm tắt mẫu nghiên cứu, kiểm định độ tin cậy thang đo, phân tích nhân tố khám phá (EFA), kiểm định mô hình theo phân tích tương quan, hồi quy, kiểm định đánh giá khác biệt theo các yếu tố điều tiết. Chương 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ Tóm tắt các kết quả của nghiên cứu, từ đó đưa ra các hàm ý quản trị.
Bên cạnh đó cũng nêu lên những đóng góp của đề tài, các hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo. 10 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Hành vi sử dụng ví điện tử Hành vi là phản ứng có thể quan sát được của một cá nhân trong một tình huống nhất định đối với một mục tiêu nhất định. Hành vi sử dụng là sự tương tác năng động của các yếu tố ảnh hưởng, nhận thức, hành vi và môi trường mà qua sự thay đổi đó con người thay đổi cuộc sống của họ (Bennett, 1988, dẫn theo Trần Lê Trung Huy, 2011, 7).
Hành vi sử dụng ví điện tử là việc sử dụng ví điện tử để thực hiện một giao dịch thanh toán. Giao dịch này gồm hai bên: bên thực hiện thanh toán và bên nhận thanh toán. Vì lý do giới hạn thời gian thực hiện nên nghiên cứu này đã không tách hai nhóm này ra để thực hiện riêng rẽ, đây cũng là một hạn chế của nghiên cứu này. Trong nghiên cứu này, hành vi sử dụng Ví điện tử được định nghĩa là hành vi sử dụng lập lại tức là một cá nhân đã có tài khoản ví điện tử và sử dụng ví điện tử này để thực hiện giao dịch.
Một số mô hình về hành vi người tiêu dùng Lý thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action - TRA) Được xây dựng từ năm 1967 và được hiệu chỉnh mở rộng theo thời gian từ đầu những năm 1970 bởi Ajzen và Fishbein (1980). Mô hình TRA cho thấy xu hướng tiêu dùng là nhân tố dự đoán tốt nhất về hành vi tiêu dùng. Để quan tâm hơn về các nhân tố góp phần đến xu hướng mua thì xem xét hai nhân tố là thái độ và chuẩn chủ quan của khách hàng. Trong mô hình TRA, thái độ được đo lường bằng nhận thức về các thuộc tính của sản phẩm.
Người tiêu dùng sẽ chú ý đến những thuộc tính mang lại các ích lợi cần thiết và có mức độ quan trọng khác nhau. Nếu biết trọng số của các thuộc tính đó thì có thể dự đoán gần đúng kết quả lựa chọn của người tiêu dùng. Nhân tố chuẩn chủ 11 quan có thể được đo lường thông qua những người có liên quan đến người tiêu dùng (như gia đình, bạn bè, đồng nghiệp.); những người này thích hay không thích. Mức độ ảnh hưởng của nhân tố chủ quan đến xu hướng mua của người tiêu dùng phụ thuộc: mức độ ủng hộ/phản đối đối với việc mua của người tiêu dùng và động cơ của người tiêu dùng làm theo mong muốn của những người có ảnh hưởng.
Mức độ ảnh hưởng của những người có liên quan đến xu hướng hành vi của người tiêu dùng và động cơ thúc đẩy người tiêu dùng làm theo những người có liên quan là hai nhân tố cơ bản để đánh giá chuẩn chủ quan. Mức độ thân thiết của những người có liên quan càng mạnh đối với người tiêu dùng thì sự ảnh hưởng càng lớn tới quyết định chọn mua của họ. Niềm tin của người tiêu dùng vào những người có liên quan càng lớn thì xu hướng chọn mua của họ cũng bị ảnh hưởng càng lớn. Ý định mua của người tiêu dùng sẽ bị tác động bởi những người này với những mức độ ảnh hưởng mạnh yếu khác nhau.
Trong mô hình thuyết hành động hợp lý thì niềm tin của mỗi cá nhân người tiêu dùng về sản phẩm hay thương hiệu sẽ ảnh hưởng đến thái độ hướng tới hành vi, và thái độ hướng tới hành vi sẽ ảnh hưởng đến xu hướng mua chứ không trực tiếp ảnh hưởng đến hành vi mua. Do đó thái độ sẽ giải thích được lý do dẫn đến xu hướng mua sắm của người tiêu dùng, còn xu hướng là nhân tố tốt nhất để giải thích xu hướng hành vi của người tiêu dùng. Thái độ Ý định hành vi Hành vi Chuẩn chủ quan Hình 2-1. Mô hình thuyết hành động hợp lý (Nguồn: Ajzen và cộng sự, 1980) 12 Thuyết hành vi dự định hay thuyết hành vi có kế hoạch (Theory of Planned Behaviour – TPB) Thuyết hành vi dự định do Ajzen (1991) đề xuất là một mô hình cải tiến của Thuyết hành động hợp lý TRA (Theory of Reasoned Action) được Ajzen và Fishbein xây dựng từ năm 1975 và được xem là học thuyết tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu tâm lý xã hội.
Mô hình TRA cho thấy hành vi được quyết định bởi ý định thực hiện hành vi đó. Mối quan hệ giữa ý định và hành vi đã được kiểm chứng thực nghiệm trong rất nhiều nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực khác nhau và đều cho thấy tính đúng đắn của mối quan hệ này. Sự ra đời của thuyết hành vi dự định TPB (Theory of Planned Behavior) xuất phát từ giới hạn của hành vi mà con người có ít sự kiểm soát. Một nhân tố thứ ba được Ajzen thêm vào để cải tiến mô hình TRA là Nhận thức kiểm soát hành vi (Perceived Behavioral Control).
Nhân tố này phản ánh mức độ khó khăn hay dễ dàng khi thực hiện một hành vi nào đó và việc thực hiện hành vi đó có bị kiểm soát hay hạn chế hay không. Nhận thức của một cá nhân về sự dễ dàng hoặc khó khăn trong việc thực hiện hành vi cụ thể; điều này phụ thuộc vào sự sẵn có của các nguồn lực và các cơ hội để thực hiện hành vi. Ajzen đề nghị rằng nhân tố nhận thức kiểm soát hành vi tác động trực tiếp đến xu hướng thực hiện hành vi, và nếu cá nhân nhận thức chính xác về mức độ kiểm soát của mình, thì kiểm soát hành vi còn dự báo cả hành vi. Thuyết hành vi có kế hoạch có thể được sử dụng để hỗ trợ cho quá trình nghiên cứu về hành vi của khách hàng, người tiêu dùng trong Marketing.
Bởi lẽ trong thời buổi ngày nay, thời đại kỷ nguyên số bùng nổ, khách hàng có nhiều sự lựa chọn hơn và thị trường cạnh tranh ngày một gay gắt, cuộc chiến để nắm bắt được tâm lý và hành vi của khách hàng là một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất của Marketing bởi quyền lực của khách hàng đã và đang ngày một lớn mạnh và đóng vai trò quan trọng trong các hoạt động mua bán hàng hóa, dịch vụ. 13 Thái độ Chuẩn chủ Ý định hành Hành vi quan vi Nhận thức kiểm soát hành vi Hình 2-2. Mô hình thuyết hành vi dự định (Nguồn: Ajzen, 1991) Lý thuyết chấp nhận và sử dụng công nghệ (UTAUT) Venkatesh và cộng sự (2003) đã phát triển lý thuyết chấp nhận và sử dụng công nghệ (Unified Theory of Acceptance and Use of Technology - UTAUT) như một tổng hợp toàn diện về nghiên cứu chấp nhận công nghệ trước. Lý thuyết chấp nhận và sử dụng công nghệ có bốn cấu trúc chủ chốt là: hiệu suất mong đợi, nỗ lực kỳ vọng, ảnh hưởng xã hội, và tạo điều kiện thuận lợi) ảnh hưởng đó ý định hành vi sử dụng công nghệ và / hoặc công nghệ sử dụng.
Trong đó: Kỳ vọng hiệu suất: được định nghĩa là mức độ sử dụng công nghệ sẽ mang lại lợi ích cho người tiêu dùng trong việc thực hiện các hoạt động nhất định. Kỳ vọng nỗ lực: là mức độ dễ dàng liên quan đến người tiêu dùng sử dụng công nghệ. Ảnh hưởng xã hội: là mức độ mà người tiêu dùng cảm nhận những người quan trọng khác (ví dụ: gia đình và bạn bè) tin rằng họ nên sử dụng một công nghệ cụ thể. 14 Tạo điều kiện thuận lợi để người tiêu dùng tham khảo, nhận thức về các nguồn lực và hỗ trợ của người tiêu dùng thực hiện một hành vi (Brown và Venkatesh, 2005; Venkatesh và cộng sự, 2003).
Theo lý thuyết UTAUT, kỳ vọng về hiệu suất, kỳ vọng nỗ lực và ảnh hưởng xã hội được lý thuyết hóa để ảnh hưởng đến ý định hành vi sử dụng công nghệ, trong khi ý định hành vi và điều kiện thuận lợi xác định việc sử dụng công nghệ. UTAUT có bốn cấu trúc chính được trình bày là kỳ vọng hiệu suất, kỳ vọng nỗ lực, ảnh hưởng xã hội và các điều kiện thuận lợi. Cấu trúc UTAUT được phát triển từ 8 mô hình đó là Lý thuyết hành động hợp lý (TRA), Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM), Mô hình động lực (MM), Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB), Mô hình sử dụng PC (MPCU) và Lý thuyết khuếch tán đổi mới (IDT). Cụ thể, Alalwan và cộng sự (2018) đã nghiên cứu dựa trên lý thuyết về hành vi có kế hoạch (TPB), lý thuyết thống nhất về chấp nhận và sử dụng công nghệ (UTAUT) để xác định các yếu tố thuyết phục trong việc phát triển thái độ tích cực ở người tiêu dùng thông qua quảng cáo trên Facebook.
Có thể nói lý thuyết thống nhất về chấp nhận và sử dụng công nghệ (UTAUT) đã được áp dụng và mở rộng trong các nghiên cứu về quảng cáo trực tuyến trong thời đại công nghệ hiện nay. Quá trình ra quyết định mua hàng, sử dụng dịch vụ Theo Kotler (2005) quá trình quyết định mua hàng của người tiêu dùng thường sẽ trải qua 5 giai đoạn: Ý thức về nhu cầu, tìm kiếm thông tin, đánh giá các phương án, quyết định mua và hành vi sau khi mua. Như vậy, tiến trình quyết định mua của người tiêu dùng đã bắt đầu trước khi việc mua thực sự diễn ra và còn kéo dài sau khi mua.