MỞ ĐẦU CHƢƠNG 2 Nhƣ đã đề cập ở trên, nghiên cứu của tác giả đi sâu phân tích các yếu tố ảnh hƣởng đến hành vi đọc báo online, qua đó biết đƣợc thực trạng đọc báo của mọi ngƣời nhằm đề xuất những giải pháp nâng cao khả năng đọc báo. Trong chƣơng 2, tác giả trình bày những lý thuyết liên quan đến hành vi đọc báo và tham khảo các mô hình nghiên cứu liên quan của các tác giả trong và ngoài nƣớc. Dựa vào những bài học cũng nhƣ mô hình nghiên cứu trƣớc đây, tác giả sẽ xây dựng mô hình nghiên cứu chính thức cho bài nghiên cứu của mình. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.
Một số khái niệm 2. Khái niệm về Internet Hay theo NEU – EDUTOP đã có định nghĩa về mạng Internet nhƣ sau: ―Internet là một liên mạng máy tính toàn cầu đƣợc hình thành từ các mạng nhỏ hơn, liên kết hàng triệu máy tính trên thế giới thông qua cơ sở hạ tầng viễn thông. Internet là mạng của các mạng máy tính. Trong mạng này, các máy tính và thiết bị mạng giao tiếp với nhau bằng một ngôn ngữ thống nhất.
Đó là bộ giao thức TCP/IP (Transmission Control Protocol – Internet Protocol).‖ Không thể từ chối, Internet đã trở thành một công cụ cực kỳ hữu ích kể từ khi ra đời và giúp cho mọi nơi, mọi sự kiện trên thế giới đều có thể đƣợc cập nhật một cách nhanh nhất trong thời đại kết nối toàn cầu nhƣ hiện nay. Internet đã trở thành một không gian vô cùng to lớn đối với ngƣời sử dụng, tuy nhiên, việc sử dụng một cách có hiệu quả và có ích thì vẫn cần một quá trình nghiên cứu, hay có thể nói khi tham gia Internet, liệu mọi ngƣời có thể giữ cho bản thân khả năng kiểm soát hành vi, điều khiển bản thân hay không?? Có thể nói, Internet dƣờng nhƣ đã ảnh hƣởng với rất nhiều lĩnh vực, trong đó có cả báo chí và truyền thông. Báo, sách và các xuất bản in đều đã và đang thích ứng với công nghệ, Internet và việc xây dựng lại các trang web báo điện tử hoặc xây dựng lại theo mô hình blog, web feed và tổng hợp các tin tức, thông tin trực tuyến nhanh chóng và thuận tiện hơn. Internet đã cho phép tốc độ truyền tin tức và tăng tốc các hình thức tƣơng tác cá nhân mới thông qua các trang cá nhân trên mỗi bài báo, diễn đàn Internet và mạng xã hội.
Khái niệm về hành vi sử dụng Cho đến nay đã có nhiều bài nghiên cứu và có nhiều quan điểm khác nhau về hành vi sử dụng. ―Hành vi của ngƣời tiêu dùng là một quá trình mô tả cách thức mà ngƣời tiêu dùng ra quyết định lựa chọn và loại bỏ một loại sản phẩm hay dịch vụ. Hair và Carl McDaniel, 2000). 8 ―Hành vi ngƣời tiêu dùng là những hành vi mà ngƣời tiêu dùng thể hiện trong việc tìm kiếm, mua, sử dụng, đánh giá sản phẩm và dịch vụ mà họ mong đợi sẽ thỏa mãn nhu cầu cá nhân của họ.Bennet, 1988) ―Sự tƣơng tác một cách tích cực các yếu tố ảnh hƣởng, suy nghĩ, nhận thức, hành vi và môi trƣờng mà qua những sự thay đổi đó, cuộc sống của con ngƣời cũng thay đổi đi thì ngƣời ta gọi nó là Hành vi sử dụng‖ (Bennett, 1988, dẫn theo Trần Lê Trung Huy, 2011, 7).
―Để có thể biết đƣợc, khảo sát và đo lƣờng khả năng đọc báo điện tử của mọi ngƣời, với mong muốn định lƣợng một chỉ số cụ thể của hoạt động sử dụng báo của mọi ngƣời, thƣờng thì ngƣời ta sử dụng chỉ số tần suất sử dụng báo trong một khoảng thời gian‖ (Malthouse & Calder, 2002) hoặc ―đo bằng cách xem xét mức độ thƣờng xuyên sử dụng báo điện tử, trò chuyện và phân tích, chia sẻ các nội dung bài báo với nhiều ngƣời khác, có thể là gia đình, bạn bè, đồng nghiệp‖ (Burgoon & Schoenbach, 1980, dẫn theo Lê Trần Trung Huy, 2011, 28). ―Hành vi ngƣời tiêu dùng là sự tƣơng tác năng động của các yếu tố ảnh hƣởng, nhận thức, hành vi và môi trƣờng mà qua sự thay đổi đó con ngƣời thay đổi cuộc sống của họ‖. Nghiên cứu hành vi sử dụng với mục đích giải thích quá trình quyết định mua hay không một loại hàng hóa nào đó. Với những phân tích hành vi sử dụng, thì yếu tố then chốt trong phân tích chính là ―đo lƣờng xu hƣớng tiêu dùng của khách hàng‖.
―Xu hƣớng tiêu dùng đƣợc định nghĩa là sự nƣơng theo một cách chủ quan của ngƣời tiêu dùng về một loại hàng hóa, sản phẩm, thƣơng hiệu nào đó và đã đƣợc chứng minh là yếu tố chủ chốt để dự đoán hành vi sử dụng‖ (Fishbein & Ajzen, 1975). Có nhiều nghiên cứu đã xem xét đến các yếu tố ảnh hƣởng đến việc ngƣời sử dụng có chấp nhận và sử dụng công nghệ thông tin hay không. Các nhà nghiên cứu đã sử dụng nhiều thuyết để giải thích, chính là thông qua bộ ba Lý thuyết hành động hợp lý (TRA), Thuyết hành vi dự định (TPB) và mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) dẫn từ nghiên cứu của Kwong & ctg (2002). Tất cả các thuyết rời rạc đƣợc nêu bên trên đêu đƣợc Venkatesh & Davis (2003) hợp nhất lại thành mô hình lý thuyết hợp nhất của việc chấp nhận và sử dụng công nghệ thông tin – Unified Theory of Acceptance and Use of Technology (UTAUT) vào năm 2003.
Tổng quan về việc đọc Khái niệm đọc Theo từ điển Merriam-Webster, từ Đọc có nghĩa là ―đọc to những từ đƣợc in hoặc viết‖ hoặc theo Từ điển Oxford, từ Đọc có nghĩa là ―có khả năng nhìn và hiểu đƣợc ý nghĩa của các vấn đề đƣợc viết hoặc in‖. Và những định nghĩa này lần đầu tiên đƣợc biết đến trƣớc thế kỷ 12. Lại có định nghĩa cho rằng Đọc là một dạng hoạt động ngôn ngữ, là quá trình chuyển từ hình thức chữ viết sang lời nói có âm thanh tƣơng ứng với hình thức đọc thành tiếng. Và quá trình chuyển trực tiếp từ hình thức chữ viết thành lời nói không có âm thanh thì đƣợc gọi là đọc thầm.
Đọc không phải là một hành động bẩm sinh, hay nhƣ (Walter, Khả năng nói và khả năng đọc viết: Công nghệ hóa của từ, 2008) (Wolf M., Phỏng vấn cá nhân với Barry Cull, 2009) (Wolf M., Proust and the squid: Câu chuyện và khả năng đọc một cách khoa học của bộ não, 2008) đã mô tả hành động đọc không sẵn trong bộ gen. Đúng hơn, đọc là một hoạt động đã trải qua những thay đổi quan trọng kể từ khi đƣợc hình thành. Wolf đã viết một cách hào hứng rằng ―mặc dù thực tế là tổ tiên của chúng ta đã mất khoảng 2.000 năm để phát triển một bảng mã chữ cái, trẻ em thƣờng đƣợc mong đợi sẽ hiểu đƣợc bảng mã này trong khoảng 2. Tầm quan trọng của việc đọc Đọc sách, báo chí để tiếp thu thông tin là nền tảng thành công không chỉ ở trƣờng học, cao đẳng hay đại học mà còn trong suốt cuộc đời.
Thông qua việc đọc, mọi ngƣời có đƣợc kiến thức và ý tƣởng mới, có đƣợc thông tin cần thiết, thông thạo ngôn ngữ và cải thiện vốn từ vựng. Bên cạnh đó, việc đọc cũng phục vụ nhƣ một ngƣời bạn tốt, ngƣời bạn đồng hành và mang đến niềm vui, mở rộng tầm nhìn và làm phong phú thêm cuộc sống của mọi ngƣời. Đọc đóng một vai trò quan trọng và có vị trí quan trọng nhất trong giáo dục nhƣ một cách thức giao tiếp trong một xã hội có trình độ văn hóa cao. Cuốn sách vẫn rất phổ biến trong giới trẻ nhƣ cũng nhƣ trong xã hội hiện đại của chúng ta và bất chấp việc phát minh ra công nghệ mới dựa trên, tài liệu nghe nhìn, cuốn sách ở 10 dạng thông thƣờng thông thƣờng vẫn là quan trọng nhất, phƣơng tiện giao tiếp từng đƣợc phát minh.
―Đọc đóng vai trò rất quan trọng, để đạt đƣợc thông tin và thu nhận kiến thức‖ (Inderjit, 2014). Trong nghiên cứu của anh ấy với độc giả là ngƣời trƣởng thành (Guthrie, 1984), phát hiện ra rằng đọc sách góp phần quan trọng vào sự phát triển nghề nghiệp, công việc thành công và khả năng thay đổi để đáp ứng. Tầm quan trọng của việc đọc sách đã dẫn đến nhiều công việc nghiên cứu đƣợc thực hiện để hiểu bản chất của thói quen đọc và hành vi của các cá nhân. Với số lƣợng lớn nội dung và thông tin kỹ thuật số có sẵn và tăng lƣợng thời gian mà mọi ngƣời dành để đọc thông qua phƣơng tiện điện tử, kỹ thuật số môi trƣờng hiện nay đã bắt đầu ảnh hƣởng đến thói quen và hành vi đọc của mọi ngƣời.
Khái niệm về Báo điện tử (Báo online) Báo điện tử là loại báo ra đời muộn hơn so với báo giấy và với thời đại hiện nay báo điện tử có thể xem nhƣ một phƣơng tiện thông tin đại chúng đảm nhận nhiều nhiệm vụ cùng lúc nhƣ phát thanh, truyền hình một cách dễ dàng và trở thành một kênh vô cùng đặc sắc, có ƣu thế về khả năng đa phƣơng tiện, mang tính nhanh chóng, tức thời và không thiếu phần thời sự, có lƣu trữ lại, đƣợc phân loại nên việc tìm hiểu và nghiên cứu sẽ dễ dàng hơn. Thực tế mà nói, khái niệm về báo điện tử đến nay vẫn còn chƣa thống nhất và có nhiều tên gọi khác nhau trong nhiều trƣờng hợp nhƣ: Báo điện tử, báo mạng, báo online, báo chí Internet,… ―Báo trực tuyến‖ có thể nói là thuật ngữ đã đƣợc sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực tin học, thể hiện các khía cạnh kỹ thuật tin học, điện tử và nói đến trạng thái tƣơng tác giữa mọi ngƣời bới nhau. Hay ―báo mạng‖ là thuật ngữ gọi tắt của ―báo chí mạng Internet‖. Và nhiều nhà nghiên cứu, nhà khoa học đã có các bài nghiên cứu các vấn đề xung quanh đến loại hình đọc báo này và đã sử dụng một cách phổ biến trong các tài liệu và báo chí nƣớc ngoài đó là ―online‖ và từ này đƣợc vận dụng khá phổ biến sau khi phủ sóng, kể cả ở Việt Nam.
Và hiện nay, thuật ngữ ―báo điện tử‖ xem nhƣ đã tiếp cận và ngày càng quen thuộc đối với mọi ngƣời, thuật ngữ này đi cùng với ―online‖ đƣợc sử dụng nhiều nhất. Và thuật ngữ ―báo điện tử‖ cũng đƣợc các trang web sử dụng để dùng làm từ 11 định nghĩa cho loại hình báo chí này.