Chương 1: Tổng quan về nghiên cứu, bao gồm: Vấn đề nghiên cứu, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa và kết cấu luận văn. Chương 2: Cơ sở lý thuyết, bao gồm: Các khái niệm liên quan đến di cư, lý thuyết về các yếu tố ảnh hưởng đến di cư và các nghiên cứu trước. Chương 3: Phương pháp và mô hình nghiên cứu, bao gồm: Phương pháp nghiên cứu, mô hình nghiên cứu, diễn giải các biến trong mô hình và dữ liệu nghiên cứu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận, bao gồm: Thực trạng di cư quốc tế, thống kê mô tả các yếu tố ảnh hưởng đến di cư quốc tế, phân tích tương quan, đa cộng tuyến, kết quả nghiên cứu và thảo luận.
Chương 5: Kết luận và khuyến nghị, bao gồm: Kết luận, khuyến nghị và hạn chế của Luận văn. 4 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT Di cư quốc tế là một hình thức của di cư nói chung. Do đó, tác giả dựa vào cơ sở lý thuyết về di cư để làm nền tảng lý thuyết cho luận văn. Chương này, tác giả trình bày các khái niệm liên quan đến di cư, lý thuyết về các yếu tố ảnh hưởng đến di cư và các nghiên cứu trước liên quan đến di cư.1 Các khái niệm liên quan đến di cư 2.1 Di cư Theo Liên Hợp Quốc (LHQ) (1958), di cư là một hình thức di chuyển trong không gian của con người từ một đơn vị địa lý hành chính này đến một đơn vị địa lý hành chính khác, kèm theo sự thay đổi chỗ ở thường xuyên trong khoảng thời gian di cư xác định.
Như vậy, dân cư di chuyển ra khỏi đơn vị hành chính của một xã, huyện, tỉnh hay thành phố trong một khoảng thời gian xác định thì được xem là di dân. Theo Tổng cục Dân số và Qũy Dân số Liên Hợp Quốc (TCDS & UNFPA) (2011), di cư là sự di chuyển của người dân theo vùng lãnh thổ với những giới hạn về thời gian và không gian nhất định kèm theo sự thay đổi nơi cư trú. Theo Tổ chức Di cư Quốc tế (IMO), di cư là sự dịch chuyển dân số bao gồm bất kỳ sự dịch chuyển nào của một người hay một nhóm người kể cả qua biên giới một quốc gia hay trong một quốc gia. Đó là sự di chuyển của con người bất kể độ dài, thành phần hay nguyên nhân, bao gồm di cư của người tị nạn, người di cư kinh tế và người di chuyển vì mục đích khác trong đó có đoàn tụ gia đình.
Bên cạnh đó để làm rõ hơn cơ sở lý luận về di cư, LHQ (1958) đã đưa ra một số khái niệm như: Tổng di cư: Là tổng của tất cả những người tham dự vào quá trình di cư bao gồm cả người di cư đi và di cư đến. Di cư thuần túy: Là sự chênh lệch giữa số người di cư đến và số người di cư đi trong một thời gian nhất định ở một địa bàn nhất định. Di dân gộp: Là con số tổng cộng bao gồm cả những người đến và đi của một vùng, là chỉ số đo lường toàn bộ dân số đến và đi trong một cộng đồng dân cư. 5 Di cư đi và di cư đến: Di cư đi là số người di cư ra khỏi quốc gia nơi cư trú và di cư đến là người di cư đến một địa điểm mới nào đó.
Nơi đi và nơi đến: Nơi đi là nơi sự di chuyển bắt đầu và nơi đến là nơi người nhập cư gia nhập vào hay sự di chuyển kết thúc.2 Các hình thức di cư Theo LHQ (1958), dựa trên các tiêu chí khác nhau di cư có thể chia thành các hình thức như sau: Theo độ dài nơi cư trú, bao gồm: Di cư lâu dài và di cư tạm thời. Di cư lâu dài là di cư đến một địa điểm mới trong một thời gian dài và di cư tạm thời là di cư trong thời gian ngắn hoặc sẽ đi và về thường xuyên. Theo khoảng cách di cư, bao gồm: Di cư quốc tế và di cư nội địa. Di cư quốc tế là một hình thức di cư phân theo địa giới hành chính.
Nó thể hiện sự di cư ra ngoài phạm vi lãnh thổ của một nước. Ngược lại, di cư nội địa là sự di cư trong phạm vi lãnh thổ của một quốc gia, không vượt qua biên giới lãnh thổ của quốc gia khác. Theo tính chất pháp lý, bao gồm: Di cư hợp pháp và di cư bất hợp pháp. Di cư hợp pháp là di cư được sự cho phép và tuân thủ theo quy định của luật pháp.
Di cư bất hợp pháp là hình thức di cư không được sự cho phép của Nhà nước như tội phạm quốc tế, vượt biên, nạn buôn bán người. Theo hướng di chuyển, bao gồm: Di cư thành thị - thành thị, di cư thành thị - nông thôn, di cư nông thôn - thành thị, di cư nông thôn - nông thôn. Theo Pertersen (1978), có một số hình thức di cư như sau: Di cư nguyên thủy: Là những người di cư do không đủ khả năng chống chọi lại những biến đổi của môi trường tự nhiên, thường gắn với sự biến đổi khí hậu, thời tiết khắc nghiệt, thiên tai, lũ lụt, hạn hán hay đất đai bạc màu. Di cư nhóm: Là sự di cư gắn với việc di chuyển của một nhóm người hoặc một đơn vị lao động như hộ gia đình.
Di cư cá nhân: Là sự di cư gắn với việc di chuyển của một cá nhân. Di cư tự do: Là việc di chuyển của cá nhân hay gia đình theo mục đích riêng mà không bị chi phối bởi bất kỳ cản trở hay sức ép nào. 6 Di cư bắt buộc/ di cư miễn cưỡng: Là hình thức di cư mà quyết định di cư là do người khác chứ không do chính cá nhân quyết định. Theo Mervyn Piesse (2014), di cư có thể được chia thành: Di cư nhân đạo và di cư kinh tế.
Di cư nhân đạo bao gồm những người tị nạn như: tị nạn chính trị, tị nạn môi trường. Theo đó, những cá nhân thường di cư sang các nước khác tương đối gần về mặt địa lý với nước xuất xứ để thoát khỏi hiện trạng tại quốc gia của họ. Những người di cư do sự phá hoại tự nhiên hay thảm họa có thể xác định là người tị nạn môi trường và xin tị nạn ở các nước khác ít bị ảnh hưởng bởi khí hậu tiêu cực. Những người di cư do chiến tranh, bạo lực hay sự đe dọa của những cuộc xung đột chính trị được gọi là người tị nạn chính trị.
Trong thập kỷ qua, Afghanistan đã là một quốc gia điển hình của người di cư nhân đạo. Di cư kinh tế là những người di cư vì mục đích kinh tế như tìm kiếm cơ hội việc làm tốt hơn với mức thu nhập cao hơn. Pakistan và Iran là quốc gia tiêu biểu đại diện cho di cư kinh tế.3 Các chỉ tiêu di cư theo TCDS và UNFPA (2011) Di dân thuần túy NM = (I – O) = (Pt1 – Pt0) – (B – D) NM: Di dân thuần túy. Pt1, Pt0: Tổng dân số ở thời điểm t0 và t1.
I,O: Số lượng nhập cư và xuất cư ở hai thời điểm (I - O) là tăng cơ học. B, D: Tổng số sinh và chết giữa hai thời điểm (B - D) là tăng tự nhiên. Tỷ suất xuất cư O: Số người xuất cư khỏi địa bàn. P: Dân số trung bình của địa bàn đó.
Tỷ suất nhập cư 7 I: Số người nhập cư vào địa bàn. P: Dân số trung bình của địa bàn đó. Tỷ suất tổng di dân: I: Số người nhập cư vào địa bàn. O: Số người xuất cư khỏi địa bàn.
P: Dân số trung bình của địa bàn đó.2 Lý thuyết các yếu tố ảnh hưởng đến di cư 2.1 Lý thuyết Kinh tế Tân cổ điển Theo lý thuyết Kinh tế Tân cổ điển, sự khác biệt tiền lương thực tế giữa các nước sẽ tạo ra dòng chảy giữa nguồn lao động và nguồn vốn. Cho đến khi một trạng thái cân bằng mới được xác lập theo đó mức lương giữa các nước tương đương nhau. Lý thuyết này lý giải, đầu tiên là một nguồn lao động từ khu vực có mức lương thấp sẽ di cư qua khu vực có mức lương cao hơn. Sau đó, một nguồn vốn từ khu vực có mức lương cao sẽ đỗ về khu vực lương thấp.
Nguồn vốn này bao gồm cả tiền và nguồn lao động có tay nghề. Khu vực lương thấp Khu vực lương cao Lao động Dòng chảy lao động Lao động Nguồn vốn Nguồn vốn Dòng chảy nguồn vốn Hình 2.1: Cơ chế dẫn đến sự cân bằng của lý thuyết Kinh tế Tân cổ điển Bên cạnh đó, lý thuyết Kinh tế Tân cổ điển cho rằng người di cư là những người trẻ tuổi. Vì thế, nó góp phần làm trẻ hóa dân số ở quốc gia tiếp nhận và có khả năng làm già hóa nhân khẩu học ở quốc gia xuất xứ. Đồng thời, người di cư có tỷ lệ sinh sản cao hơn qua đó tạo ra một lực lượng lao động trẻ tuổi mới.
Chính vì vậy tạo nên sự thay đổi trong cơ cấu nhân khẩu học của quốc gia tiếp nhận và làm giảm sự khác biệt nguồn nhân 8 lực giữa các nước tiếp nhận và xuất xứ. Tuy lý thuyết này không trực tiếp đề cập đến vấn đề di cư nhưng qua cơ chế dẫn đến sự cân bằng cho thấy sự chênh lệch tiền lương và nguồn nhân lực giữa các nước đã tạo nên di cư quốc tế. Khác với quan điểm này, lý thuyết kinh tế của Keynes cho rằng di cư cũng xuất phát từ tiền lương nhưng không phải tiền lương thực tế mà là tiền lương danh nghĩa. Bởi vì, tiền không chỉ có tác dụng là phương tiện trao đổi mà còn là phương tiện để tiết kiệm.
Việc mong muốn có mức thu nhập cao hơn để chuyển gửi về trong nước khiến cho người di cư bị cuốn hút nhiều hơn với mức lương danh nghĩa. Và theo ông không có trạng thái cân bằng như lý thuyết Kinh tế Tân Cổ Điển.2 Lý thuyết thị trường lao động kép Piore (1979) phân chia lao động thế giới thành hai phân khúc: phân khúc chính và phân khúc phổ thông. Lao động trong phân khúc chính là những lao động phục vụ trong nền công nghiệp phát triển đặc trưng bởi phương pháp sản xuất thâm dụng vốn. Lao động trong phân khúc phổ thông là những lao động trong nền nông nghiệp hoặc các quốc gia đang/ kém phát triển mà đặc trưng bởi phương pháp sản xuất thâm dụng lao động.