Chương 1. Giới thiệu nghiên cứu: gồm lý do chọn đề tài nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài, kết cấu luận văn. Cơ sở lý thuyết: Trình bày các khái niệm về hộ gia đình, chủ hộ, tổng thu nhập của hộ, chi tiêu giáo dục của hộ, các lý thuyết và nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài, khung phân tích nghiên cứu. Mô hình và phương pháp nghiên cứu: Trình bày quy trình nghiên cứu, mô hình lý thuyết và mô hình đề xuất nghiên cứu, nguồn dữ liệu được sử dụng nghiên cứu.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 Chương 4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận: Bằng phương pháp thống kê mô tả đánh giá thực trạng CTGD của hộ dân cư trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Sử dụng mô hình hồi quy OLS phân tích xác định các yếu tố có tác động đến chi tiêu giáo dục của hộ dân cư. Kết luận và kiến nghị chính sách: Chương này trình bày định hướng phát triển giáo dục của thành phố Hồ Chí Minh, đề xuất hàm ý chính sách, nêu hạn chế của đề tài, hướng cho nghiên cứu tiếp theo và kết luận.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Chương 2. Một số định nghĩa, khái niệm: 2. Hộ gia đình Khái niệm hộ gia đình theo Điều tra KSMS hộ dân cư của TCTK Việt Nam: Hộ gia đình gồm một người ăn riêng ở riêng một mình hoặc một số người ăn chung, ở chung trong một chỗ ở từ hơn 6 tháng trong 12 tháng qua và có chung quỹ thu chi. Những người được coi là thành viên của hộ phải thoả mãn đồng thời hai điều kiện sau: (1) Cùng ăn, ở chung từ hơn 6 tháng trong 12 tháng qua; và (2) Có quỹ thu chi chung, nghĩa là tất cả nguồn thu nhập của mỗi người phải nộp vào quỹ tài chính chung của hộ và mọi khoản tiêu dùng của họ đều được lấy ra từ quỹ chung đó.
Theo báo cáo của Ủy ban châu Âu (2010) về điều tra chi tiêu giáo dục, khái niệm hộ gia đình phải có đủ bốn đặc điểm cơ bản sau đây: Một là các thành viên trong hộ có cùng một địa chỉ ăn ở thường xuyên; Hai là các thành viên thống nhất trong chia sẻ các loại chi phí cần thiết để đảm bảo cuộc sống; Ba là phải có đóng góp chung phần thu nhập cũng như các loại tài sản tạo thành ngân sách chung của hộ; Bốn là phải có sự ràng buộc về mối quan hệ huyết thống hoặc tình cảm giữa các thành viên trong hộ gia đình. Theo Hệ thống chỉ tiêu thống kê, hộ gia đình là một đơn vị xã hội. Trong thống kê, hộ là đơn vị điều tra (thu thập thông tin), bao gồm một hay một nhóm người ở chung và ăn chung. Đối với những hộ có từ 2 người trở lên, các thành viên trong hộ có thể có hay không có quỹ thu chi chung; có thể có hoặc không có quan hệ huyết thống, nuôi dưỡng hoặc hôn nhân; hoặc kết hợp cả hai.
Theo Điều 106 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: Hộ gia đình mà các thành viên có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định là chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự thuộc các lĩnh vực này. Chủ hộ Trong điều tra mức sống hộ dân cư của Tổng cục Thống kê Việt Nam định nghĩa chủ hộ là người có vai trò quản lý, điều hành, quyết định hầu hết mọi công việc LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 của hộ. Chủ hộ thường là người có thu nhập nhiều nhất trong hộ, nắm được hầu hết các hoạt động kinh tế và thông tin của các thành viên khác trong hộ. Chủ hộ theo khái niệm có thể trùng hoặc không trùng với chủ hộ theo đăng ký hộ khẩu.
Theo Ủy ban châu Âu (2010), chủ hộ là người mà căn cứ vào đặc điểm cá nhân của họ, từ đó có thể phân loại và phân tích các thông tin thu thập được từ hộ gia đình do người đó làm chủ hộ. Chủ hộ có thể là người có thu nhập nhiều nhất trong hộ, chủ sở hữu căn nhà hoặc là người đàn ông lớn tuổi nhất trong hộ. Theo Bộ luật Dân sự Việt Nam (2005) chủ hộ là người đại diện cho hộ gia đình trong các giao dịch dân sự vì lợi ích chung của hộ. Cha, mẹ hoặc một thành viên khác đã thành niên có thể là chủ hộ.
Thu nhập của hộ gia đình: Theo KSMS hộ gia đình của TCTK Việt Nam, thu nhập của hộ là tất cả số tiền và giá trị vật chất quy ra thành tiền sau khi đã trừ chi phí sản xuất mà hộ và các thành viên trong hộ nhận được trong một thời gian xác định, thường là 1 năm. Thu nhập của hộ bao gồm: - Toàn bộ nguồn thu từ tiền công, tiền lương; - Toàn bộ nguồn thu từ hoạt động sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thuỷ sản (sau khi đã trừ chi phí và thuế sản xuất); - Toàn bộ nguồn thu từ hoạt động sản xuất phi nông, lâm nghiệp, thuỷ sản (sau khi đã trừ chi phí và thuế sản xuất); - Các nguồn thu khác được tính vào thu nhập của hộ như thu từ cho biếu, mừng, giúp, lãi tiết kiệm… Các khoản thu không tính vào thu nhập gồm rút tiền tiết kiệm, thu nợ, bán tài sản, vay nợ, tạm ứng và các khoản chuyển nhượng vốn nhận được do liên doanh, liên kết trong sản xuất kinh doanh … 2. Chi tiêu giáo dục của hộ gia đình: Theo KSMS hộ gia đình của TCTK Việt Nam, chi tiêu dùng của hộ dân cư bao gồm các khoản chi tiêu cho các nhu cầu ăn uống và không phải ăn uống trong một khoảng thời gian nhất định, thường là 1 năm. Chi tiêu của hộ dân cư trong kỳ không bao gồm chi phí sản xuất kinh doanh, thuế sản xuất kinh doanh, gửi tiết kiệm, cho vay, LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 trả nợ, hoàn tạm ứng… và những khoản chi tương tự.
Theo đó chi tiêu học tập là tổng số tiền và giá trị vật chất của hộ gia đình dùng để chi cho nhu cầu học tập cho các thành viên trong hộ trong một khoảng thời gian xác định. Theo Ủy ban châu Âu (2010), chi tiêu cho học tập của hộ dân cư bao gồm ba phần: - (i) Chi phí trực tiếp: là các khoản chi học phí của học sinh, chi cho các nhà cung cấp các khóa học nâng cao tay nghề và kỹ năng, chi mua sách vở và đồ dùng học tập, chi mua đồng phục, phí học thêm. - (ii) Chi phí gián tiếp: là những khoản chi không nằm trong chi phí trực tiếp trong quá trình học, như phí sinh hoạt cho học sinh, phí đi lại, chi ăn uống cho người học nội trú – bán trú, chi mua đồ dùng, dụng cụ học tập phục vụ cho việc tự học, chi quà tặng cho những người không phải là thành viên của hộ gia đình vì mục đích học tập. - (iii) Chi phí cơ hội được phản ánh qua những công việc hoặc các hoạt động nghỉ ngơi mà người học phải bỏ qua đề dành thời gian cho việc học tập.
Các lý thuyết liên quan: 2. Lý thuyết về hành vi tiêu dùng: Theo lý thuyết tiêu dùng của Mas-collet và cộng sự (1995): Người tiêu dùng có quyết định chi tiêu mang tính chất duy lý. Trong điều kiện thu nhập của hộ gia đình có giới hạn thì người tiêu dùng sẽ lựa chọn rổ hàng hóa đảm bảo sao cho mức hữu dụng đạt được tối đa., xn): Rổ hàng hóa tiêu dùng; x1, x2,…, xn là các loại hàng hóa. p = p (p1, p2, ……, pn): Giá của rồ hàng hóa tiêu dùng; p1, p2,…., pn là giá của các loại hàng hóa.
I: Ngân sách của người tiêu dùng. Với mức giá của thị trường là p và ngân sách I cố định cho trước, tập hợp các lựa chọn của người tiêu dùng sẽ được viết lại dưới dạng sau: B (p,I) ={x thuộc Rn+; p.x ≤ I}, người tiêu dùng lựa chọn sử dụng hàng hóa sao cho đạt mức thỏa dụng cao nhất. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Vấn đề này được thực hiện dựa trên một số giả định cơ bản như thông tin thị trường hoàn hảo, người tiêu dùng chấp nhận giá và giá của hàng hóa có dạng tuyến tính. Lý thuyết về sự tác động của thu nhập đến chi tiêu: Theo lý thuyết của E.
Engel (1821 – 1896) về sự tác động của thu nhập đến chi tiêu, đã thực hiện nghiên cứu về ngân sách gia đình và đưa ra kết luận về các mô hình chi tiêu tiêu dùng, là ở những hộ gia đình có mức thu nhập khác nhau thì sẽ có chi phí cho các hàng hóa và dịch vụ không giống nhau. Cụ thể là khi thu nhập tăng lên thì tỷ trọng của thu nhập chi tiêu cho các loại hàng hóa thiết yếu như lương thực thực phẩm tăng lên đến một mức nhất định thì có xu hướng giảm dần và chi tiêu cho các loại hàng hóa xa xỉ càng tăng khi thu nhập càng tăng. Có nghĩa là các hộ dân cư nghèo thường dùng phần lớn thu nhập của họ chi tiêu cho các nhu cầu thiết yếu như lương thực thực phẩm, còn các hộ gia đình giàu có lại dùng phần lớn thu nhập cho chi tiêu các nhu cầu xa xỉ. Sự thay đổi này trong các mô hình chi tiêu tiêu dùng khi thu nhập của các hộ gia đình gia tăng được gọi là quy luật Engel.
Vậy theo lý thuyết về sự tác động của thu nhập đến chi tiêu của E.Engel (1895) cho thấy sự biến động của thu nhập có tác động đến chi tiêu của hộ dân cư đối với một loại hàng hóa nào đó. Lý thuyết về đầu tư cho giáo dục của hộ gia đình: Giáo dục và đào tạo là khoản đầu tư quan trọng nhất trong chiến lược phát triển vốn con người theo nghiên cứu về vốn con người của Schultz (1961) và Becker (1975). Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng giáo dục trung học và đại học ở Mỹ là nhân tố góp phần cải thiện đáng kể thu nhập của cá nhân, ngay cả khi đã khấu trừ chi phí trực tiếp và gián tiếp của việc đi học ở trường, và thậm chí là sau khi tính đến thực tế người có trình độ giáo dục cao thường có chỉ số IQ tốt hơn, có phụ huynh giàu có và học cao hơn. Bằng chứng tương tự tồn tại trong nhiều năm nay đã xuất hiện ở hơn 100 quốc gia khác biệt về văn hóa và hệ thống kinh tế.