CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Hongjiang Xu và cộng sự (2003) “Key issues of accounting information quality management: Australian case studies” - “ Các vấn đề của quản lý chất lượng thông tin kế toán: nghiên cứu trường hợp của Úc” Bài viết này thảo luận về các kết quả của các nghiên cứu trường hợp của Úc minh họa các vấn đề quan trọng cần được giải quyết để quản lý chất lượng thông tin. Trong các nghiên cứu trước đó từ các tài liệu hiện có, các yếu tố có thể ảnh hưởng đến chất lượng thông tin đã được tổng kết. Các bên có liên quan tới chất lượng TTKT bao gồm: người bảo quản thông tin, người sản xuất thông tin, người tiêu dùng thông tin, và người quản lý thông tin.
Trong bài báo này, một mô hình cho các vấn đề quan trọng có ảnh hưởng đến chất lượng TTKT đã được đề xuất dựa trên các tài liệu. Human issues Accuracy System issues Accounting Timelines information Organisational quality Completeness External issues Consisteney (Nguồn: Hongjiang Xu và cộng sự) Hình 1. Các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng thông tin theo nghiên cứu của Hongjiang Xu và cộng sự Dựa trên kết quả nghiên cứu các trường hợp, rõ ràng con người, hệ thống, và các vấn đề tổ chức được coi là rất quan trọng đối với thông tin chất lượng cao. Ngoài ra, các yếu tố bên ngoài có thể có tác động đáng kể đến chất lượng thông tin.
Mặc dù các tổ chức không thể tác động trực tiếp trên những yếu tố này, nhưng các LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 2 tổ chức có thể chủ động quản lý những thay đổi của những yếu tố đó. Với các kỹ năng quản lý sự thay đổi, các tổ chức có thể sử dụng áp lực bên ngoài để đẩy mạnh công tác quản lý chất lượng thông tin trong nội bộ doanh nghiệp. Liu Feng và cộng sự (2004), “Can Accounting Standards Enhance Accounting information Quality”- “Các tiêu chuẩn kế toán có thể nâng cao chất lượng thông tin kế toán”. Bài viết này tìm hiểu các mối quan hệ của chuẩn mực kế toán và chất lượng TTKT.
Dựa theo nghiên cứu Ball và cộng sự (2000), Liu Feng và cộng sự cho rằng chất lượng TTKT được xác định bởi các tiêu chuẩn kế toán, rủi ro tranh chấp và các ưu đãi bên ngoài. Sự thay đổi của chuẩn mực kế toán sẽ làm ảnh hưởng đến chất lượng TTKT, đặc biệt là nếu các điều kiện của rủi ro tranh chấp thấp. Các bằng chứng thực nghiệm từ các thị trường vốn của Trung Quốc đã chứng minh cho giả thuyết mà nhóm tác giả đưa ra. Nghiên cứu của Nelson và cộng sự (2005) đã dựa trên kết quả nghiên cứu ở mô hình của DeLone và McLean (1992) để nhận định các đặc tính chủ yếu của chất lượng thông tin bao gồm: tính thích hợp, tính chính xác, tính đầy đủ, và có thể hiểu được.
Thông qua việc khảo sát các đối tượng là những người sử dụng dữ liệu BCTC, cho thấy trong bốn đặc tính nêu trên thì đặc tính ảnh hưởng nhiều nhất tới chất lượng thông tin trên BCTC là tính chính xác của thông tin được trình bày, đứng thứ hai là tính đầy đủ. Tính chính xác phụ thuộc vào mức độ trung thực của thông tin, còn đầy đủ có nghĩa là người sử dụng biết được tất cả các thông tin có liên quan đến vấn đề đó. Theo mô hình nghiên cứu của Stoderstrom và Sun (2007), các nhân tố tác động tới chất lượng TTKT đó là: Hệ thống pháp luật và chính trị, chuẩn mực kế toán, việc trình bày BCTC. Trong đó, chuẩn mực kế toán là nhân tố chịu sự chi phối của hệ thống pháp luật và chính trị, vì pháp luật quy định các chuẩn mực kế toán được ban hành.
Việc trình BCTC bao hàm bốn yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng TTKT: thị trường tài chính, chủ sở hữu, cấu trúc vốn và hệ thống thuế. Bốn đặc tính LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 3 chất lượng của TTKT theo chuẩn mực là: tính phù hợp, tính trung lập, đáng tin cậy, và có thể hiểu được. Ferdy van Beest và cộng sự (2009), nhóm nghiên cứu đã dựa vào các đặc tính của chất lượng nêu trong “Khung lý thuyết hoàn thiện cho báo cáo tài chính” của IASB và FASB (2008) để thực hiện nghiên cứu. Các đặc điểm về chất lượng trong nghiên cứu bao gồm: thích hợp, trình bày trung thực, dễ hiểu, có thể so sánh được, kịp thời.
Các đặc tính đó được xem là hợp lý khi lấy làm căn cứ trong việc hình thành các công cụ đánh giá về chất lượng BCTC. Các báo cáo thường niên ở Mỹ, Anh và Hà Lan được đem ra để sử dụng cho nghiên cứu (231 báo cáo), nhóm nghiên cứu đã xây dựng bảng khảo sát với 21 biến quan sát dựa vào hai đặc tính chất lượng cơ bản và bốn đặc tính chất lượng nâng cao. Sau quá trình nghiên cứu, nhóm tác giả đã đưa ra kết quả nghiên cứu với đặc tính thích hợp là yếu tố quan trọng đứng đầu khi đánh giá chất lượng thông tin, sau đó mới đến hợp lệ, đáng tin cậy. Kết quả nghiên cứu từ việc kiểm định mô hình hồi quy tuyến tính bội của Ferdy van Beest và cộng sự cũng đưa ra kết luận về sự ảnh hưởng của chuẩn mực kế toán, môi trường pháp lý, quy mô công ty, ảnh hưởng của ngành công nghiệp tới chất lượng BCTC của các công ty niêm yết được khảo sát.M Kallob đã sử dụng phương pháp phân tích nội dung vì tác giả cho rằng phương pháp này tốt nhất để đạt được các mục tiêu của nghiên cứu do phân tích nội dung chuyên về phân tích các văn bản như BCTC.
Mục tiêu chính của nghiên cứu là để đánh giá chất lượng của các BCTC sử dụng các thông tin đặc trưng về chất. Kiểu dữ liệu mà tác giả sử dụng cho nghiên cứu của mình là dữ liệu sơ cấp và thứ cấp. Các BCTC của ngân hàng ở Palestine được đưa vào sử dụng cho nghiên cứu, các mẫu báo cáo trong nghiên cứu là BCTC của ngân hàng trong giai đoạn 2006- LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Các công cụ đo lường được xây dựng bằng cách sử dụng tài liệu xác định chất lượng BCTC về các đặc điểm định tính cơ bản và nâng cao theo IASB (2008).
Nhóm nghiên cứu đưa ra kết quả về tỷ lệ các đặc tính cơ bản và nâng cao được trình bày trong BCTC, nhóm đặc điểm nâng cao bao gồm tính trung thực và thích hợp, còn nhóm đặc điểm cơ bản gồm tính kịp thời với tỷ lệ phần trăm cao nhất là 98,4%, sau đó đến có thể hiểu được (62,4%) và có thể so sánh (51,8%). Kết quả nghiên cứu đưa ra là cơ sở để nhóm tác giả đề xuất các giải pháp giúp nâng cao chất lượng BCTC ở các ngân hàng ở Palestine. Nghiên cứu “The Impact of IFRS Adoption on the Quality of Consolidated Financial Reporting” – “Tác động của việc chấp nhận IFRS lên chất lượng báo cáo tài chính hợp nhất” của Victor-Octavian Müller (2013), nghiên cứu điều tra thông qua một nghiên cứu thực nghiệm liên kết các tác động của việc áp dụng bắt buộc IFRS từ năm 2005 về chất lượng tuyệt đối và tương đối (đo lường thông qua các giá trị liên quan) của thông tin tài chính được cung cấp bởi các BCTCHN cho các công ty niêm yết trên 3 thị trường chứng khoán lớn nhất châu Âu (thị trường chứng khoán London, Paris và Frankfurt – xác định quy mô dựa trên vốn hóa thị trường và khối lượng giao dịch cổ phiếu). Nghiên cứu loại trừ các công ty tài chính và bảo hiểm trong mẫu khảo sát do cấu trúc và công tác kế toán thực hành ở những công ty này có sự khác biệt so với những công ty phi tài chính.
Khi phân tích thống kê mô tả kết hợp sử dụng các mô hình kinh tế lượng trong nghiên cứu, có thể thấy rằng có mối tương quan mạnh mẽ giữa biến phụ thuộc (giá cổ phiếu) và các biến giải thích (vốn cổ phần, thu nhập tương ứng trên mỗi cổ phiếu, BCTC riêng và BCTCHN), trong đó cho thấy có cả sự liên quan của giữa giá trị kế toán và giá trị thị trường của công ty. Mối tương quan giữa giá cổ phiếu và giá trị kế toán trên BCTCHN là cao hơn, cho thấy ưu thế của BCTCHN so với BCTC công ty mẹ. Có 2 giả thuyết được đưa ra trong nghiên cứu này. Giả thuyết 1: BCTC được hợp nhất được trình bày theo Chuẩn mực BCTC Quốc tế (IFRS) có chất lượng cao LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 hơn (tức là giá trị thích hợp hơn) so với BCTCHN được trình bày theo quy định quốc gia.
Giả thuyết 2: Chất lượng (giá trị liên quan) thặng dư được cung cấp bởi các BCTCHN (khi so sánh với BCTC công ty mẹ) là cao hơn trong bối cảnh áp dụng Chuẩn mực BCTC Quốc tế (IFRS). Kết quả của việc kiểm định là chấp nhận giả thuyết H1 và H2. Bằng việc áp dụng 3 mô hình hồi quy kinh tế lượng trên một mẫu gồm BCTCHN của các công ty niêm yết từ 2003-2008, nghiên cứu qua 2 giai đoạn trước khi IFRS thông qua (2003-2004) và giai đoạn sau khi thông qua IFRS (2005-2006). Kết quả cho thấy sự gia tăng về chất lượng BCTCHN giữa 2 giai đoạn, do đó cho thấy rằng việc áp dụng IFRS trong các quốc gia châu Âu đã dẫn đến việc tuân thủ tốt hơn của các công ty.
Rapina, Padjadjaran University (2014), “Factors Influencing The Quality of Accounting Information System and Its Implications On The Quality of Accouting Information” –“ Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng của hệ thống thông tin kế toán và những hàm ý của nó đối với chất lượng thông tin kế toán”. Mục tiêu của nghiên cứu này là để xác định ảnh hưởng của các yếu tố tổ chức (cam kết quản lý, văn hóa tổ chức và cơ cấu tổ chức) đến chất lượng của hệ thống TTKT và những tác động của nó đến chất lượng của TTKT. Các đối tượng tham gia trong nghiên cứu này là các nhân viên kế toán của 33 hợp tác xã ở Bandung, Indonesia. Nghiên cứu đã tóm tắt một số quan điểm về chất lượng TTKT của một số tác giả khác.
Theo Baltzan (2012) thông tin được coi là đạt yêu cầu về chất lượng nếu có đủ các yếu tố: chính xác, đầy đủ, phù hợp, kịp thời và độc đáo. Theo Gelinas và cộng sự (2012), thông tin có chất lượng khi cung cấp cho lợi ích cho các nhà quản trị, người sử dụng ra quyết định.