chương 1 khái quát những nội dung cơ sở để tiến hành xây dựng nội dung cho bài nghiên cứu như: nguyên nhân chọn đề tài, tính cấp thiết của đề tài, xác định nền móng cho nghiên cứu cũng như đối tượng và phạm vi nghiên cứu, mục tiêu cần đạt được sau khi hoàn thành nghiên cứu. Những đóng góp mà nghiên cứu này mang lại. Cuối cùng tác giả đã thiết kế bố cục 5 chương cho luận văn này. 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU TRƯỚC 2.
LÝ THUYẾT VỀ CHO VAY TIÊU DÙNG 2. Tổng quan về cho vay tiêu dùng có tài sản đảm bảo 2. Khái niệm về cho vay tiêu dùng Cho vay tiêu dùng là hoạt động kinh doanh quan trọng của các NHTM nhằm giải quyết xu thế của thị trường đó là nhu cầu mua sắm của các KH cá nhân vượt quá khả năng thanh toán vào thời điểm mua nhưng người bán hàng lại muốn bán được nhiều hàng hóa hơn. Do đó, các NHTM với vai trò là trung gian tài chính buộc phải thực hiện chức năng cho vay của mình để giải quyết vấn đề này, đây cũng chính là nguyên nhân lớn nhất để hình thành nên CVTD tại các NHTM.
Theo Bùi Diệu Anh (2020), CVTD là các khoản vốn ngân hàng tài trợ cho nhu cầu chi tiêu của người tiêu dùng, bao gồm cá nhân và hộ gia đình. Đây là một nguồn tài chính quan trọng giúp người dân trang trải nhu cầu nhà ở, đồ dùng gia đình, xe cộ,… Bên cạnh đó, những chi tiêu cho nhu cầu giáo dục, y tế và du lịch… cũng có thể được tài trợ bởi CVTD. Theo Hồ Diệu (2001), CVTD là một trong các hình thức cấp tín dụng của tổ chức tín dụng, trong đó các khoản vay được cấp cho cá nhân, hộ gia đình bởi ngân hàng hoặc các công ty tài chính để thỏa mãn nhu cầu chi tiêu của khách hàng. Tùy vào từng đối tượng khách hàng, mục đích vay, mức cho vay hay thời hạn cho vay, mà tổchức tín dụng có thểcho vay tiêu dùng có hoặc không có tài sản bảo đảm.
Hiện nay, cho vay tiêu dùng thường được khách hàng cá nhân, hộ gia đình sử dụng để tài trợ cho các chi phí như mua nhà, mua xe ôtô để phục vụ đi lại, giáo dục, y tế, du lịch. Tại nghiên cứu này tác giả cho rằng, việc CVTD là quá trình cung cấp một khoản vay tài chính cho các KH cá nhân hoặc hộ gia đình sử dụng cho các mục đích mua sắm, du lịch, giáo dục hoặc các nhu cầu chi tiêu khác. CVTD thường không cần tài sản đảm bảo và thời hạn trả nợ thường ngắn hạn. Đặc điểm cho vay tiêu dùng Số lượng các khoản vay lớn, quy mô mỗi khoản vay nhỏ: Theo Nguyễn Đăng Dờn (2011), KH sử dụng vốn vay ngân hàng đối với mục đích tiêu dùng thì chủ yếu xoay quanh mục đích đáp ứng được nhu cầu vốn tiêu dùng.
Khoản vay này chủ yếu cho mục đích phục vụ trực tiếp cho chi tiêu trong cuộc sống như mua đất đai, bất động sản, mua sắm vật dụng trong gia đình, sữa chữa nhà cửa, nhu cầu cho con cái đi du học,… Nhìn chung, khi KH có nhu cầu vay tại các NHTM sẽ bị hạn chế bởi những điều kiện ràng buộc của NHTM về việc sử dụng nguồn vốn nhu thế nào, năng lực trả nợ và tài sản đảm bảo. Loại hình cho vay tiêu dùng thường áp dụng cho số đông là KH cá nhân trong xã hội với mọi thu nhập từ thấp đến cao. Vì thế nhu cầu tín dụng đa dang sẽ thích hợp với mục đích vay của KH, do cuộc sống ngày càng đòi hỏi về chất lượng, nhận thức của KH về cuộc sống ngày càng phong phú đa dạng và đòi hỏi cần được cải thiện. Tiền lãi được áp dụng theo dư nợ gốc giảm dần và thời gian trả nợ tương đối dài đủ để KH trả lãi đúng kỳ hạn.
Lãi suất của cho vay tiêu dùng thường không có thay đổi dưới những ảnh hưởng của điều kiện bền ngoài hay bên trong của NHTM trừ những trường hợp biến động lớn của thị trường. Các khoản cho vay tiêu dùng của NHTM thường có quy mô nhỏ nhưng số lượng hợp đồng rất nhiều tướng ứng với số lượng KH trên thị trường. Các khoản vay này thường được chi phối bởi trình độ học vấn và thu nhập. Nguyên nhân xuất phát từ việc các KH có thu nhập cao thường có xu hướng muốn vay nhiều hơn so tổng thu nhập hàng năm của KH và có kì hạn dài để thanh toán nợ.Những KH có học vấn cao thường sẽ cân nhắc về các loại sản phẩm cho vay.
Theo Phan Thị Thu Hà (2013), đối với các hình thức CVTD thì các NHTM thường sẽ gặp các rủi ro như sau: Rủi ro về thông tin bất cân xứng: Đối với hình thức CVTD thì thông tin do KH cá nhân cung cấp cực kỳ quan trọng và là ưu tiên hàng đầu trong việc quyết định cung 10 cấp tín dụng cho KH. Bên cạnh việc cân đối về nhu cầu, khả năng trả nợ và tài sản đảm bảo thì đánh giá nguồn tài chính trả nợ thường khó đầy đủ và chính xác. Điều này dẫn đến sự bất cân xứng về thông tin KH chưa chính xác. Cũng có những rủi ro không lường trước được như KH mất việc làm, bị tai nạn,…làm ảnh hưởng đến thu nhập trả nợ.
Rủi ro tác nghiệp: Do đặc điểm các khoản vay có giá trị nhỏ nhưng lại có số lượng hồ sơ của KH rất nhiều và cần được xử lý nhanh gọn từ các cán bộ tín dụng. Điều này dẫn đến rủi ro tác nghiệp vì các cán bộ muốn hoàn thành công việc một cách nhanh chóng nên đã chủ quan, lõng lẽo trong việc xét duyệt thông tin KH. Và còn có trường hợp thông đồng với KH trong việc xét duyệt dẫn đến làm thất thoát ngân sách của ngân hàng. Tốn kém chi phí: Với lượng KH lớn, ví trí địa lý, chỗ ở của KH gây tốn kém về mặt chi phí thẩm định và mất thời gian cho các công tác: quảng cáo, tiếp thị, phát triển mạng lười để thuận tiện cho KH có nhu cầu, mở rộng cơ sở hạ tầng khắp các tỉnh thành,… Lợi nhuân từ CVTD rất lớn: Do rủi ro cao nên kéo theo lãi suất cho vay thường cao hơn nhiều so với cho vay có tài sản đảm bảo.
Giúp cho tổng thu nhập mang về từ CVTD là đáng kể trong tổng nguồn thu của NHTM. Vai trò của cho vay tiêu dùng Đối với người tiêu dùng: Được hưởng các tiện ích trước khi tishc lũy đủ tiền và đặc biệt là đối với các khoản chi tiêu có tính cấp bách như nhu cầu chi tiêu cho giáo dục và y tế. Đối với thê hệ trẻ và người có thu nhập thấp, tín dụng tiêu dùng giúp cho KH có cuộc sống ổn định ngay từ khi còn trẻ bằng việc đi vay để phục vụ cho nhu cầu của cuộc sống, tạo thêm động lực làm việc, tiết kiệm và nuôi dưỡng con cái. Bên cạnh đó, nếu lạm dụng cho vay tiêu dùng quá mức thì người đi vay sẽ giảm khả năng tiết kiệm và chi tiêu trong tương lai.
Đối với ngân hàng: Giúp mở rộng tệp KH cá nhân, làm tăng khả năng huy động vốn tạo điều kiện đa dạng hóa hoạt động kinh doanh. Bán chéo các sản phẩm dịch vụ 11 khác nhau nhờ vậy nâng cao thu nhập và phân tán rủi ro cho ngân hàng. Tuy nhiên cho vay tiêu dùng cso nhược điểm là rủi ro và chi phí cao. Đối với nền kinh tế: Đối với doanh nghiệp, tín dụng tiêu dùng tăng cao sẽ giúp quy mô sản xuất tăng nhanh, hàng hóa đa dạng và phòng phú cả về số lượng và chất lượng.
Chính điều này làm cho toàn bộ quá trình sản xuất, trao đổi, phân phối, tiêu dùng diễn ra nhanh chóng và hiệu quả giúp tăng trưởng nền kinh tế. Cho vay tiêu dùng giúp thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế một cách nhanh chóng, tạo thêm nhiều cơ hội việc làm và tăng thu nhập, tạo khả năng tiết kiệm. Mở rộng cớ hội huy động vốn và phát triển các dịch vụ ngân hàng của các tổ chức tín dụng. Khái niệm về vay tiêu dùng có tài sản đảm bảo Cho vay có đảm bảo bằng tài sản được hiểu là loại tín dụng do ngân hàng cung cấp trên cơ sở tài sản thế chấp, cầm cố hoặc có bảo lãnh bằng tài sản.
Theo Lê Thị Thu Thủy (2006), bảo đảm tiền vay bằng tài sản là một hình thức được áp dụng tương đối phổ biến do có sự đánh giá độ an toàn của khoản vay bằng tài sản đảm bảo dễ dàng hơn so với các biện pháp đảm bảo khác. Các TCTD được quản lý tài sản đảm bảo hoặc giấy tờ pháp ý liên quan đến tài sản của KH vay hoặc bên bảo lãnh. Trong trường hợp phát sinh tranh chấp hoặc KH không có đủ khả năng trả nợ thì buộc phải xử lý tài sản để thu hồi nợ và hạn chế hơn so với các biện pháp bảo đáp khác như tín chấp. Theo Bùi Diệu Anh (2020), Bảo đảm tín dụng là việc thiết lập cơ sở pháp lý và kinh tế nhằm bảo vệ quyền lợi của người cấp tín dụng dựa trên các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ đã được thực hiện nghĩa vụ đã được quy định trong bộ luật dân sự.
Vai trò của đảm bảo tiền vay Có đủ cơ sở pháp lý để có nguồn thu nợ thứ hai khi nguồn thu nợ thứ nhất không thực hiện được. Gắn kết được trách nhiệm của người đi vay trong quá tình sử dụng vốn. Phòng ngừa rủi ro tín dụng, giảm nhẹ tổn thất cho TCTD khi KH mất khả năng thanh khoản. Các hình thức đảm bảo tiền vay Theo Bùi Diệu Anh (2020), những biện pháp đang được các ngân hàng áp dụng phổ biến: Thế chấp tài sản: là hình thức bảo đảm trong đó bên thế chấp dùng tài sản thuộc quyền sở hữu của mình để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với bên thế chấp và không chuyển giao tài sản đó cho bên thể chấp.
Tài sản thế chấp bao gồm: nhà ở, đất đai, các cơ sở sản xuất kinh doanh như nhà máy, khách sạn,… Cầm cố tài sản: Là việc bên đi vay giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên cho vay để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Bên cầm cố có thể trực tiếp giữ hoặc ủy quyền cho bên thứ 3 giữ tài sản cầm cố.