Chương 1: F l các nhân tô này được xác định có ảnh Cơ sở lý luận của hưởng quan trọng tới việc thay đổi kiểm nghiên cứu kn atin oa nha ch san whe tnd od toán viên của các công ty niêm yét tại sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội? Chương 2: Phương pháp nghiên cứu và thang đo Tra lời câu hỏi nghiên cứu thứ 2: Mô hình các nhân tố ảnh hưởng đến việc Chương 3: Kết quả và bàn luận Bảng 1: Khung nghiên cứu của đề tài 15 CHUONG 1- CƠ SỞ LÝ LUẬN CUA VAN ĐÈ NGHIÊN CỨU 1.1 Thị trường chứng khoán và doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán. Thi trường chứng khoán Thị trường chứng khoán là một phần của thị trường tài chính. Xét về hình thức, thị trường chứng khoán là nơi diễn ra các hoạt động trao đồi, mua, chuyền nhượng chứng khoán (Ha Bao Trang và cộng sự, 2015). Theo Harwood và cộng sự (1999) thì sau mười lăm năm cải cách kinh tế và tám năm chuẩn bị, thị trường chứng khoán đầu tiên của Việt Nam đã được thành lập tại thành phố Hồ Chí Minh vào cuối tháng 7 năm 2000 với tên gọi chính thức là "Trung tâm giao dịch chứng khoán”.
Thời điểm đầu, chỉ có hai công ty được niêm yết và đến tháng 8 năm 2002 thì có 19 công ty. Sự tăng trưởng của thị trường chứng khoán này diễn ra rất chậm, đến cuối năm 2005 mới có ba mươi mốt công ty được niêm yết với tổng vốn hóa thị trường khoảng 320 triệu đô la Mỹ. Tuy nhiên đến cuối năm 2015 đã có 319 cổ phiếu được niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) với tổng giá trị vốn thị trường đạt 1. Để đạt được sự tăng trưởng này, thị trường chứng khoán Việt Nam trải qua nhiều thăng trầm, bao gồm: giai đoạn hình thành và mới phát triển (giai đoạn 2000-2005), giai đoạn tăng trưởng nóng (2006-2007), thời kỳ chịu ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu (2008-2009) , các giai đoạn hậu khủng hoảng (2010-2011) và giai đoạn ồn định cho đến nay (2012-2016) (theo Ha Bao Trang và cộng sự, 2015).
Doanh nghiệp niêm yết Theo quy định tại Luật chứng khoán số 70/2006/QH11 thì niêm yết chứng khoán là việc đưa các chứng khoán có đủ điều kiện vào giao dịch tại Sở giao dịch chứng khoán hoặc Trung tâm giao dịch chứng khoán. Doanh nghiệp niêm yết là doanh nghiệp có cô phiếu được niêm yết trên sàn giao dịch chứng khoán cho giao dịch công khai. Dé được trở thành doanh nghiệp niêm yết thì mỗi quốc gia có một quy định khác nhau. 16 Tại Việt Nam, một doanh nghiệp đáp ứng được các tiêu chí sau thì sẽ đủ điều kiện niêm yết trên Sàn Giao dịch chứng khoán: qd) Là công ty cổ phần thuộc một trong ba loại hình theo Quy định tại Điều 25 Luật chứng khoán số 70/2006/QH ngày 29/06/2006 là: (i) Công ty đã thực hiện chao bán giá cổ phiếu ra công chúng, (ii) Công ty có cổ phiếu được niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán hoặc Trung tâm giao dịch chứng khoán, (iii) Công ty có cổ phiếu được ít nhất một trăm nhà đầu tư sở hữu, không kể nhà đầu tư chứng khoán chuyên nghiệp và có vén điều lệ đã góp từ mười tỷ đồng Việt Nam trở lên.
(2) Đáp ứng các quy định cụ thể của từng sàn giao dịch. Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội, Sở Giao dịch chứng khoán TP. Hồ Chí Minh theo quy định tại Điều 53 và 54 của Nghị định số 58/2012/NĐ-CP ngày 20/07/2012. @) Điều 3 Thông tư 202/2015/TT-BTC ngày 18/12/2015 quy định trong hồ sơ đăng ký niêm yết “Các thông tin, số liệu trong hồ sơ, bản cáo bach phải căn cứ vào báo cáo tài chính đojợc kiểm toán, cụ thể như sau: a) Báo cáo tài chính, báo cáo kiểm toán đối với khoản mục vốn chủ sở hữu, vốn điều lệ đã góp của tổ chức đăng ký niêm yết (thay đổi đăng ký niêm yết) phải được kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước chấp thuận.
Đối với các tổ chức liên quan khác tham gia hợp nhất, sáp nhập, hoán đồi, báo cáo tai chính phải đựợc kiểm toán theo quy định pháp luật về kiểm toán độc lập. b) Ý kiến kiểm toán đối với khoản mục vốn chủ sở hữu, vốn điều lệ đã góp phải là “Y kiến chấp nhận toàn phan”. Trường hợp ý kiến kiểm toán đối với báo cáo tài chính là chấp nhận có ngoại trừ, thì yếu tố ngoại trừ không phải là khoản mục vốn chủ sở hữu và khoản mục trọng yếu khác như: tiền mặt, hàng ton kho, tai sản cố định, các khoản phải thu, nợ phải trả. c) Tùy thuộc vào thời điểm nộp hồ sơ niêm yết, thay đổi niêm yết, công ty hợp nhất, công ty nhận sáp nhập sau quá trình sáp nhập hoặc công ty niêm yết sau hoán đổi được lựa chọn báo cáo tài chính dojge lập và đã dojge kiểm toán tại thời điểm gần nhất, nhưng không quá sáu (06) tháng tính đến thời điểm nộp hồ sơ, bao gồm báo cáo tai chính lập ngay sau thời điểm hợp nhất, sáp nhập, hoán đổi; hoặc báo 17 cáo tài chính quý, hoặc báo cáo tài chính bán niên, hoặc báo cáo tài chính năm lập sau thời điểm hợp nhất, sáp nhập, hoán đổi.” (4) Và một quy định mới gần đây nhất là Thông tư số 29/2017/TT-BTC sửa đổi điểm b khoản 3 Điều 1 Thông tư 202/2015/TT-BTC ngày 18/12/2015 như sau: “Ý kiến kiểm toán đối với khoản mục vốn chủ sở hữu, vốn điều lệ đã góp phải là ý kiến chấp nhận toàn phần.
Trường hợp ý kiến kiểm toán đối với báo cáo tài chính là chấp nhận có ngoại trừ, thì yếu tố ngoại trừ không phải là khoản mục vốn chủ sở hữu (trừ trường hợp ý kiến ngoại trừ về việc chưa bàn giao vốn nhà nước tại doanh nghiệp nhà nước cô phần hóa) và khoản mục trọng yếu khác ảnh hưởng đến điều kiện niêm yết như: Tiền mặt, hàng tồn kho, tài sản cố định, các khoản phải thu, nợ phải trả”. Từ các điều kiện trên có thé thấy đề trở thành doanh nghiệp niêm yết thì công ty phải đáp ứng khá nhiều điều kiện và kiểm toán viên có vai trò rất quan trọng trong việc xác định doanh nghiệp có đủ điều kiện niêm yết trên hai Sở.2 Bao cáo tài chính, kiểm toán BCTC và việc chuyển đổi kiểm toán viên của doanh nghiệp niêm yết. Bao cao tai chinh Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 01 được ban hành năm 2002 định nghĩa: “Báo cáo tài chính phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp bằng cách tổng hợp 28 các nghiệp vụ kinh tế, tài chính có cùng tính chất kinh tế thành các yếu tố của báo cáo tài chính. Các yếu tố liên quan trực tiếp đến việc xác định tình hình tài chính trong Bảng cân đối kế toán là Tài sản, Nợ phải trả và Vốn chủ sở hữu.
Các yếu tố liên quan trực tiếp đến đánh giá tình hình và kết quả kinh doanh trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là Doanh thu, Thu nhập khác, Chi phí và Kết quả kinh doanh.” Luật kế toán số 88/2015/QH13 ban hành ngày 20/11/2015 định nghĩa “Báo cáo tài chính là hệ thống thông tin kinh tế, tài chính của đơn vị kế toán được trình bày theo mẫu quy định tại chuẩn mực kế toán và chế độ kế toán. Báo cái tài chính của đơn vị kế toán dùng dé tổng hợp và thuyết minh về tình hình tài chính và kết quả hoạt động của đơn vị kế toán, bao gồm các loại báo cáo sau: Báo cáo tình hình tài chính, Báo cáo kết quả hoạt 18 động, Báo cáo lưu chuyển tiền tệ, Thuyết minh báo cáo tài chính và các báo cáo theo quy định của pháp luật. Kiểm toán báo cáo tài chính Luật kiểm toán độc lập (2011) định nghĩa “Kiểm toán độc lập là việc kiểm toán viên hành nghề, doanh nghiệp kiểm toán, chỉ nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam kiểm tra, đưa ra ý kiến độc lập của mình về báo cáo tài chính và công việc kiểm toán khác theo hợp đồng kiểm toán. Kiểm toán báo cáo tài chính là việc kiểm toán viên hành nghề, doanh nghiệp kiểm toán, chỉ nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam kiểm tra, đưa ra ý kiến về tính trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng, yếu của báo cáo tài chính của đơn vị được kiểm toán theo quy định của chuẩn mực kiểm toán”.
Từ khái niệm của báo cáo tài chính và kiểm toán báo cáo tài chính cho thấy vai trò nhiệm vụ của kiểm toán trong việc xác nhận tính trung thực và hợp lý cho báo cáo tài chính của đơn vị được kiểm toán hay cụ thể hơn là doanh nghiệp niêm yết trong nghiên cứu này. Thay đổi kiểm toán viên Có nhiều nghiên cứu đề cập đến khái niệm về thay đổi kiểm toán. Trong nghiên cứu của Hematlal Garach vào năm 2001thì “thay đổi kiểm toán viên là sự thay đổi tên của cá nhân hoặc tập thể cung cấp dịch vụ kiểm toán trên báo cáo thường niên của công ty khách hàng giữa hai năm điều tra”. Theo Từ điển về tài chính và đầu tư của John Downes and Jordon Elliot Goodman Barron 1995 thì Báo cáo thường niên của các công ty có thể hiểu là báo cáo tài chính, báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, đối với các công ty đặc biệt là các công ty niêm yết trên sàn chứng khoán thì đây được coi là một cầu nối với các nhà đầu tư tiềm năng.
Syahtiadi và Medyawati năm 2012 cũng chỉ ra “Sự thay đồi công ty kiểm toán là việc một công ty được kiểm toán quyết định chuyển đổi việc sử dụng dịch vụ kiểm toán sang một công ty kiểm toán khác”. 19 Turner và cộng sự năm 2005 làm rõ thêm việc thay đổi công ty kiểm toán bao gồm hai dạng: một là kiểm toán viên quyết định từ nhiệm và hai là quyết định thay đổi công ty kiểm toán từ phía công ty khách hàng. Tại Việt Nam hiện nay chưa có quy định cụ thể việc thay đổi kiểm toán viên mà chỉ có quy định về luân chuyền kiểm toán viên. Luân chuyền kiểm toán viên bao gồm hai loại là luân chuyền kiểm toán viên và luân chuyển công ty kiểm toán.
Trên thế giới có một số nước áp dụng cả hai loại này nhưng cũng có nước chỉ áp dụng luân chuyền ở cấp độ kiểm toán viên và Việt Nam là một trong số đó.