phần mở đầu, luận văn bao gồm 3 chƣơng chính CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN QUYỀN TỰ CHỦ, TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM CỦA TỔ CHỨC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CÔNG LẬP CHƢƠNG 2: HIỆN TRẠNG THỰC HIỆN CHUYỂN ĐỔI THEO HƢỚNG TỰ CHỦ, TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC TỔ CHỨC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CÔNG LẬP CHƢƠNG 3: ĐÁNH GIÁ CÁC YẾU TỐ DẪN ĐẾN THÀNH CÔNG TRONG VIỆC CHUYỂN ĐỔI THEO HƢỚNG TỰ CHỦ, TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ. 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN QUYỀN TỰ CHỦ, TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM CỦA TỔ CHỨC KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CÔNG LẬP 1. Lý thuyết về tự chủ, tự chịu trách nhiệm 1. Khái niệm về “tự trị” “Tự chủ, tự chịu trách nhiệm” hay cách gọi khác là “tự trị”, trong tiếng Hy Lạp là “Autonomos” Theo từ điển Oxford, “Autonomos” có nghĩa là có quyền tự do quản lý chính mình hoặc kiểm soát công việc của chính mình.
Tức là: có quyền tự do hành động độc lập. Trong những bài báo pháp luật của Samuel Warren và Louis Brandeis năm 1890 đã đề cập đến vấn đề này: trong tiếng Hy Lạp, autonomos có nghĩa là “có luật lệ riêng của nó”, auto “self” tức là “chính nó” + nomos “Law” tức là “Luật”, autonomos nghĩa là “Luật lệ của chính nó”. Điều này có nghĩa là không bị phụ thuộc bởi bất kỳ tổ chức hay cá nhân nào mà hoạt động dựa trên những luật lệ, những nguyên tắc của chính mình. Theo từ điển Bách khoa toàn thư của Anh, “tự trị” là trạng thái tự quản, là tự do tự định hƣớng và đặc biệt là không phụ thuộc về mặt đạo đức.
Trong lĩnh vực tổ chức học, tự chủ có thể đƣợc định nghĩa là mức độ một cá thể có thể ra các quyết định quan trọng mà không cần sự cho phép của ngƣời khác. Khái niệm “tự trị” đƣợc dùng phổ biến trong những lĩnh vực: Chính trị, luật pháp, khoa học và công nghệ (KH&CN),… Trong luật pháp, ngƣời ta hiểu “tự trị” theo nghĩa nhƣ là một “quyền riêng tƣ” (Privacy), trong chính trị, khái niệm “tự trị” đƣợc dùng khá phổ biến để chỉ những “khu tự trị” tức là những khu vực đƣợc quyền kiểm soát, quản lý theo luật lệ của chính nó chứ không phụ thuộc vào luật của nƣớc sở hữu khu tự trị đó. Ngoài ra, hiểu theo bản chất, tự chủ, tự chịu trách nhiệm không chỉ dùng cho đối tƣợng là các tổ chức có khả năng độc lập và đƣợc phép tự quyết 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com định mà còn dùng cho cả các cá nhân, những ngƣời có quyền tự quyết định mình, không phụ thuộc vào ngƣời khác. Nô lệ, ngƣời tù thì không có quyền tự chủ nhƣng bất cứ cá nhân nào khác trong xã hội hiện nay, không sống phụ thuộc vào ngƣời khác và không để ngƣời khác chi phối cuộc sống của mình thì ngƣời đó có quyền tự chủ.
Tự trị trong khoa học Nhƣ đã nói trƣớc đó, giá trị khoa học và xã hội đôi khi mâu thuẫn. Điều này dẫn đến các câu hỏi liên quan đến việc quản lý và kiểm soát của khoa học. Các nhà khoa học nên kiểm soát công việc của mình hay xã hội nên có một số biện pháp kiểm soát khoa học? Phần lớn các triết gia, các nhà khoa học cho rằng khoa học nên phục vụ xã hội nhƣng rất ít ngƣời đƣa đƣợc ra lời giải thích chính xác cho mối quan hệ giữa các giá trị khoa học và các giá trị xã hội. Một cách nhìn đối với mối quan hệ này là thông qua ống kính của quyền tự chủ, bởi vì các khái niệm về quyền tự chủ đặt ra ranh giới cho việc tự trị và quản lý từ bên ngoài.
Các khái niệm về quyền tự chủ đóng một vai trò quan trọng trong triết học đạo đức, chính trị và xã hội. Khi bàn về khái niệm này, điều quan trọng là phải phân biệt giữa khả năng tự trị và các quyền tự trị (Dworkin, 1988). Một ngƣời tự chủ là một ngƣời có khả năng thực hiện các nhiệm vụ nhận thức, chẳng hạn nhƣ lý luận và phán đoán, cần thiết cho việc ra quyết định (Buchanan và Brock, 2004). Quyền tự chủ là quyền đƣa ra quyết định liên quan đến bản thân, suy nghĩ, tài sản và các mối quan hệ.
Một ngƣời có thể có khả năng đƣa ra quyết định nhƣng phải đối mặt với những hạn chế đáng kể về quyền tự chủ của mình. Ví dụ, một ngƣời đàn ông đang thụ án chung thân vì tội giết ngƣời có thể có khả năng đƣa ra quyết định, nhƣng quyền quyết định bị hạn chế nghiêm trọng, do bị giam giữ. Ngƣợc lại, một ngƣời có thể có quyền tự chủ, nhƣng không có khả năng đƣa ra quyết định, do mất ý thức, bệnh tâm thần, vv 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quyền tự trị có ý nghĩa nhƣ thế nào trong khoa học? Trong triết lý của khoa học, tự chủ thƣờng đƣợc đánh đồng với phƣơng pháp luận, nhận thức luận. Trong luận văn này, tác giả sẽ tập trung vào quyền tự chủ về đạo đức, chính trị, xã hội của khoa học, chứ không phải là phƣơng pháp luận, nhận thức luận.
Mặc dù khoa học không đƣa ra quyết định, khoa học bao gồm những ngƣời làm khoa học: cá nhân các nhà khoa học, các nhóm (nhƣ nhóm nghiên cứu hoặc phòng thí nghiệm), và các tổ chức (nhƣ tạp chí, các trƣờng đại học, hoặc các tổ chức nghề nghiệp) đƣa ra quyết định liên quan đến nghiên cứu, giáo dục và các hoạt động khoa học khác (Ziman, 2000). Điều quan trọng là việc ra quyết định của các đối tƣợng trên đều có sự tƣơng tác với nhau theo những cách nào đó: các cá nhân bị ảnh hƣởng bởi những hạn chế của chính phủ đối với các nhóm và các tổ chức và ngƣợc lại. Ví dụ, một nhà nghiên cứu không thể cho đăng những nghiên cứu liên quan đến các chủ đề hay nội dung cấm của chính phủ,…. Kể từ khi các cá nhân, các nhóm, và tổ chức tất cả các lựa chọn liên quan đến khoa học, khoa học tự chủ nên bao gồm các cấp độ khác nhau của việc ra quyết định.
Năng lực tự chủ trong khoa học do đó có thể được định nghĩa là khả năng của cá nhân, các nhóm, các tổ chức và đưa ra quyết định liên quan đến hoạt động khoa học, chẳng hạn nhƣ nghiên cứu, giáo dục, và công bố. Quyền tự chủ trong khoa học có thể được định nghĩa là quyền của cá nhân, các nhóm, các tổ chức và đưa ra quyết định liên quan đến hoạt động khoa học. Những định nghĩa này sẽ hữu ích trong việc kiểm tra đối số cho và chống lại quyền tự trị khoa học. Thế giới hiện nay đã có những tiến bộ liên quan tới những gì gọi là tự chủ khoa học, chúng ta có thể khám phá lập luận ủng hộ quyền tự chủ trong khoa học.
Có hai cách riêng biệt để chứng minh cho quyền tự chủ: một chiến lƣợc mang tính đạo đức và một chiến lƣợc mang tính thực tế. Chiến lƣợc 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mang tính đạo đức về tự chủ trong khoa học bằng cách kêu gọi các quyền chính trị, đạo đức, pháp luật hoặc của cá nhân. Ngƣời ta có thể tranh luận rằng các cá nhân có quyền tham gia vào các hoạt động khoa học bởi vì họ có quyền về đạo đức hay chính trị tự do tƣ tƣởng và ngôn luận (Donnelly 2002; Dworkin 1988) Ngoài ra, ngƣời ta có thể lập luận rằng các cá nhân có quyền tham gia vào các hoạt động khoa học bởi vì họ có quyền hợp pháp bảo vệ cho tự do ngôn luận, tự do tƣ tƣởng, tự do hội (Robertson 1977). Chiến lƣợc mang tính thực tế thì có cách biểu hiện khác.
Chiến lƣợc này bắt đầu với việc quan sát lợi ích khoa học xã hội thông qua các ứng dụng thực tế của nó trong công nghệ, kỹ thuật, nông nghiệp, y tế, giao tiếp, và những nỗ lực của con ngƣời khác (Bush 1945). Khoa học không thể tạo ra sự hiểu biết rằng sản lƣợng những kết quả ấn tƣợng, trừ khi các nhà khoa học, các nhóm khoa học, và các tổ chức đƣợc phép thực hiện các quyết định của mình. Do đó, chiến lƣợc thực tế này đi theo một hƣớng khác của chiến lƣợc mang tính đạo đức vì nó bắt đầu lý giải từ cấp độ các nhóm nghiên cứu, các tổ chức khoa học rồi mới đi xuống cấp độ cá nhân Để làm rõ hơn lý luận thực tế về quyền tự trị khoa học, tác giả xin đƣợc nhắc lại nhƣ sau: 1. Nghiên cứu khoa học tạo ra kiến thức với nhiều ứng dụng thực tế trong công nghệ, kỹ thuật, nông nghiệp, y tế, và các lĩnh vực khác.
Các ứng dụng thực tiễn của nghiên cứu khoa học có giá trị (tức là có giá trị hoặc đạt đƣợc). Để tạo ra kiến thức, các nhà khoa học cá nhân, các nhóm, các tổ chức và phải đƣợc phép thực hiện các quyết định liên quan đến hoạt động của họ, chẳng hạn nhƣ lựa chọn vấn đề, hình thành giả thuyết, thiết kế thí nghiệm, phân tích dữ liệu, giải thích dữ liệu, xuất bản, thẩm định, chấp nhận lý thuyết, và giáo dục. 22 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Vì vậy, các nhà khoa học, các nhóm khoa học, và các tổ chức đƣợc phép thực hiện các quyết định liên quan đến hoạt động của mình; họ cần đƣợc trao quyền tự chủ.
Các hạn chế về quyền tự trị trong khoa học Cho đến nay, tôi cho rằng sự tiến bộ của khoa học đòi hỏi các nhà khoa học, các nhóm khoa học và các tổ chức đƣợc phép thực hiện các quyết định liên quan đến công việc của họ, mà không có sự tác động từ bên ngoài cũng nhƣ sự can thiệp của chính phủ. Tuy nhiên, tự chủ, bao gồm cả quyền tự trị khoa học, không phải là một quyền tuyệt đối. Tự chủ có thể đƣợc hạn chế để ngăn chặn thiệt hại cho cá nhân, nhóm, xã hội, môi trƣờng. Ví dụ, tự do ngôn luận không cấp cho bạn quyền đƣợc nói xấu một ngƣời hàng xóm, tiết lộ thông tin bí mật về bệnh nhân của một ngƣời.
Tƣơng tự nhƣ vậy, tự chủ khoa học có thể đƣợc hạn chế để ngăn chặn các nhà khoa học, các nhóm khoa học, các tổ chức, kỷ luật hoặc làm tổn hại đến các cá nhân, nhóm, xã hội, hoặc môi trƣờng (Kitcher 2001, Shamoo và Resnik 2003).