PHẦN MỞ ĐẦU “1. Lý do chọn đề tài” “Nền hành chính theo nghĩa rộng là hoạt động quản lý, điều hành công việc của mọi tổ chức Nhà nước cũng như của các doanh nghiệp, các tổ chức chính trị, xã hội…theo chức năng, nhiệm vụ, điều lệ của từng tổ chức. Hành chính nhà nước là hoạt động chính của của các cơ quan thực thi quyền lực Nhà nước để quản lý, điều hành các hoạt động trong các lĩnh vực đời sống xã hội theo pháp luật. Nền hành chính nhà nước có ba yếu tố cấu thành trong đó có đội ngũ CBCC là một yếu tố quan trọng.
CBCC là một thành phần quan trọng không thể thiếu của bất kỳ nền hành chính nào. CBCC đóng vai trò thực thi pháp luật để quản lý các lĩnh vực của đời sống”. “Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 - 2020, trọng tâm cải cách hành chính trong giai đoạn 10 năm tới là cải cách thể chế, xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ CBCC viên chức, cải cách chính sách tiền lương”. “Mới đây, Hội nghị Trung ương bảy khóa XII đã diễn ra tại Hà Nội từ ngày 7/5/2018 đến 12/5/2018, nội dung trọng tâm là công tác cán bộ, cải cách tiền lương và bảo hiểm xã hội.
Trong đó Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh” “Cán bộ và công tác cán bộ là vấn đề đặc biệt quan trọng trong công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, có ý nghĩa quyết định sự thành bại của cách mạng”. “Từ trước đến nay và trong những nhiệm kỳ gần đây, Đảng ta luôn quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ công chức đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của từng thời kỳ cách mạng; đã có nhiều quyết sách rất đúng về cán bộ và công tác cán bộ; kiên trì, kiên quyết lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện các chính sách, biện pháp, đạt được những kết quả quan trọng. Nhờ đó, đội ngũ CBCC các cấp đã có bước trưởng thành, phát triển về nhiều mặt, chất lượng ngày càng được nâng cao, cơ cấu độ tuổi, giới tính, dân tộc, ngành nghề, lĩnh vực công tác có sự cân đối, hợp lý hơn”.“Trên thực tế trong những năm gần đây, tình trạng một số CBCC xin thôi việc trong đó có nhiều công chức giỏi”, nhiều “nhân tài”, “nhiều công chức trẻ có chuyên môn nghiệp vụ và công chức giữ cương vị quản lý lãnh đạo đang diễn ra trên quy mô rộng”. “Mới đây, Đề án 992 của Thành phố Đà Nẵng về phát triển nguồn nhân lực cao đã đưa ra thống kê 93/460 công chức đã xin rút khỏi Đề án, một tỷ lệ khác đang chờ hết thời gian cam kết để xin ra khỏi cơ quan nhà nước, điều này là một thực 17 trạng đáng buồn không chỉ riêng với Đà Nẵng mà còn với các địa phương khác trên cả nước.
Cũng theo khảo sát của Đề án 922 thì 64,6% học viên cho biết công việc được bố trí không phù hợp với chuyên ngành, sở trường. Nhiều người không thích nghi được môi trường làm việc hành chính và cho rằng lãnh đạo thiếu quan tâm, chưa cởi mở, chưa lắng nghe tiếp thu ý kiến từ cấp dưới và 12,5% học viên đang đi làm cho biết sẽ không tiếp tục làm việc, với các nguyên nhân môi trường chưa tốt, mức lương chưa đảm bảo cuộc sống, không có cơ hội thăng tiến” “Như vậy, tình trạng CBCC trong cơ quan nhà nước xin nghỉ việc đã gây ra những khó khăn bất cập. Nếu tình trạng này vẫn tiếp diễn thì việc các cơ quan nhà nước ngày càng thiếu người có chuyên môn nghiệp vụ giỏi, có đủ tài, tầm và tâm phục vụ cho đất nước và nhân dân sẽ ngày càng gặp nhiều khó khăn hơn nữa” “Theo Maslach và cộng sự (2001) sự gắn bó của nhân viên là một biến trung gian liên kết các yếu tố về môi trường điều kiện làm việc và các kết quả khác chẳng hạn như tỉ lệ xin nghỉ việc, sự hài lòng trong công việc và sự gắn kết”. “Xét ở góc độ tổ chức, sự gắn kết với tổ chức của nhân viên thấp sẽ làm cho tổ chức mất nguồn nhân lực chất lượng, giảm hiệu năng và hiệu suất công việc.
Điều này dẫn đến sự cần thiết phải hình thành đề tài”: “Các nhân tố tác động đến sự gắn kết với tổ chức của cán bộ công chức Sở Thông tin và Truyền thông Hà Nội”. Mục tiêu nghiên cứu” - “Mục tiêu chung: Xây dựng và kiểm định các nhân tố ảnh hưởng đến sự gắn kết với tổ chức của CBCC Sở Thông tin và Truyền thông Hà Nội từ đó đưa ra các giải pháp nâng cao sự gắn kết lâu dài của CBCC với tổ chức” - “Mục tiêu cụ thể”: “Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến sự gắn kết với tổ chức của CBCC Sở Thông tin và Truyền thông Hà Nội” “Đánh giá mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến sự gắn kết với tổ chức của CBCC tại Sở” “Đề xuất các giải pháp tăng cường sự gắn kết tổ chức của CBCC Sở Thông tin và Truyền thông Hà Nội” 18 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài: “Đề tài nghiên cứu các nhân tố tác động đến sự gắn kết với tổ chức của CBCC Sở Thông tin và Truyền thông Hà Nội” “3.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài”: “Phạm vi không gian: Sở Thông tin và Truyền thông Hà Nội – 185 Giảng Võ Đống Đa, Hà Nội” “Phạm vi thời gian: Các dữ liệu thứ cấp được sử dụng trong đề tài được thu thập từ năm 2015-2017” “4. Phương pháp nghiên cứu” “4.
Quy trình thực hiện” “Mục tiêu nghiên cứu” Mô hình nghiên cứu “Cơ sở lý thuyết” Thang đo chính “Nghiên cứu chính thức” thức “Kiểm tra tương quan biến tổng Cronbach’s và kiểm tra hệ số Cronbach’s alpha alpha” “Kiểm tra trọng số EFA, nhân EFA tố và phương sai trích” “Kiểm định độ phù hợp và mức độ giải thích của mô hình, các hệ Phân tích hồi số hồi quy và các giả thuyết quy nghiên cứu” “Thảo luận kết quả nghiên cứu và một số hàm ý quản trị” “Hình 1. Quy trình thực hiện đề tài nghiên cứu” “ Nguồn: Đề xuất của tác giả 2018” 19 Nghiên cứu định tính “Trước khi tiến hành nghiên cứu định lượng, tác giả tiến hành phỏng vấn sơ bộ nhằm bổ sung điều chỉnh biến quan sát cho thang đo được sử dụng. Mục đích của việc phỏng vấn sơ bộ này nhằm: tìm hiểu và có cái nhìn tổng quát về các yếu tố có tác động đến sự gắn kết với tổ chức của CBCC tại Sở Thông tin và Truyền thông Hà Nội. Kết quả này là cơ sở để xác định các yếu tố tác động đến sự gắn kết tổ chức để từ đó xây dựng bảng câu hỏi cho khảo sát chính thức”.
“Cũng từ kết quả nghiên cứu sơ bộ, tác giả đã ghi nhận nhiều ý kiến khác nhau mặc dù cách giải thích từ ngữ có sự khác biệt tuy nhiên tựu chung lại đều xoay quanh các yếu tố như: mức thu nhập và phúc lợi, cơ hội đào tạo phát triển, đặc điểm công việc, môi trường làm việc, lãnh đạo, đồng nghiệp có tác động đến sự gắn kết với tổ chức của CBCC tại Sở”. Nghiên cứu định lượng Thiết kế mẫu nghiên cứu chính thức Nghiên cứu được thực hiện tại Sở thông tin và Truyền thông thành phố Hà Nội với phương pháp lấy mẫu toàn bộ”. “Đối tượng khảo sát là tất cả CBCC đang làm việc tại Sở (không áp dụng đối với lao động hợp đồng theo Nghị định 68)”. “Kích thước và cách chọn mẫu” “Về kích thước mẫu nghiên cứu, để tiến hành phân tích hồi quy tốt nhất, theo nghiên cứu của Hair, Anderson, Tatham và Black (1998) cho tham khảo về kích thước mẫu dự kiến.
Theo đó kích thước mẫu tối thiểu là gấp 5 lần tổng số biến quan sát. Đây là cỡ mẫu phù hợp cho nghiên cứu có sử dụng phân tích nhân tố (Comrey 1973; Roger, 2006). n=5*m, lưu ý m là số lượng câu hỏi trong bài. Còn theo Tabachnick và Fidell, 1996, cỡ mẫu tối thiểu cần đạt được tính theo công thức là n=50 + 8*m (m: số biến độc lập).
Trường hợp sử dụng phương pháp phân tích nhân tố (EFA), Hair & cộng sự (1998) cho rằng kích thước mẫu tối thiểu phải là 50, tốt hơn là 100 và tỉ lệ số quan sát/biến đo lường là 5/1, nghĩa là cứ mỗi biến đo lường cần tối thiểu năm quan sát. Trong khi đó theo Gorsuch (1983) trường hợp phân tích hồi qui kích thước mẫu cần ít nhất 200 quan sát. Còn theo quy tắc kinh nghiệm, thì mẫu nghiên cứu có kích thước càng lớn càng tốt” 20 “Đối với nghiên cứu này tác giả thu thập tối đa số lượng cán bộ CBCC trong Sở (65 người) đảm bảo kích thước mẫu tối thiểu là 50” Bảng câu hỏi Nội dung bảng hỏi gồm có hai phần: “Phần 1: Gồm những thông tin liên quan đến nhân khẩu học như giới tính”, “trình độ học vấn, chức vụ, phòng ban công tác, thời gian công tác” “Phần 2: Gồm những câu hỏi về các nhân tố tác động đến sự gắn kết với tổ chức của CBCC tại Sở” “Trong bảng hỏi, tác giả sử dụng thang đo Likert 5 điểm để đánh giá từ mức hoàn toàn không đồng ý đến hoàn toàn đồng ý” “Thu thập thông tin mẫu nghiên cứu” “Thông tin mẫu nghiên cứu được thu thập bằng phương pháp bảng hỏi chi tiết. Bảng hỏi được gửi đến các CBCC thông qua hai hình thức là phát bảng hỏi trực tiếp và khảo sát thông qua biểu mẫu google form qua email cá nhân” “Kết quả khảo sát sau khi làm sạch loại bỏ các bảng hỏi thu thập được thiếu thông tin (còn lại 60 phiếu đảm bảo yêu cầu) được nhập vào phần mềm SPSS 20.0” Phương pháp phân tích dữ liệu Thông tin thu thập được xử lý thông qua 3 bước trong phần mềm SPSS 20.0: Bước 1: Kiểm định chất lượng thang đo “Độ tin cậy của thang đo được đánh giá qua hệ số Cronbach’s Alpha”.
“Qua đó các biến không phù hợp sẽ bị loại nếu biến đó có hệ số tương quan biến tổng < 3. Theo Nunnally, J (1978), Psychometric Theory, New York, McGraw – Hill. Tiêu chuẩn để chọn thang đo có độ tin cậy Alpha từ 0,6 trở lên”. “Theo tác giả Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008) trong cuốn sách” “Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS tập 2, NXB Hồng Đức, trang 24” “thì mức giá trị hệ số Cronbach’s Alpha”: Từ 0,8 đến gần bằng 1: Thang đo lường rất tốt.
Từ 0,7 đến gần bằng 0,8: Thang đo lường sử dụng tốt. Từ 0,6 trở lên: Thang đo đo lường đủ điều kiện.