mở đầu bằng câu: *Văn hóa là một tập hợp (hoặc phức hợp) của các giá trị”. Quan niệm cảm tính này là sản phẩm của lịch sử, của thời kỳ chia tách các khoa học, khi mà văn hóa chưa được coi là đối tượng của một khoa học độc lập. Vì vậy, cần chú ý đặc biệt đến tính hệ thống của văn hóa và cần xem xét các giá trị văn hóa trong mối quan hệ mật thiết với nhau, không xem trọng và cũng không xem nhẹ bất cứ giá trị văn hóa nào. Và tính hoàn chỉnh sẽ cho phép chúng ta phân biệt một nần văn hóa hoàn chỉnh với các giá trị văn hóa được tập hợp một cách rời rạc.2 Tính giá trị Mọi hệ thống không phải là văn hóa mà chỉ là những hệ thống giá trị mới là văn hóa.
Văn hóa chứa cái đẹp, cái hay, cái tốt, cái hữu ích,. Nó là thước đo tấm lòng nhân hậu, nhân ái của con người trong cuộc sống. Để thỏa mẫn các nhu cầu, con người phải thông qua một quá trình tìm kiếm các giá trị và quá trình đó chính là cuộc sống. Giá trị là kết quả kiểm tra của chủ thể đối với đối tượng theo một hoặc một số thang đo nhất định, chẳng hạn như "đúng - sai”, "tốt - xấu”,.
Trong thế giới này, vạn vật đầu có tính hai mặt, tức là chúng vừa chứa cả giá trị và phi giá trị. Những hiện tượng tốt đẹp như tiến bộ khoa học - kỹ thuật, thành tựu y học, thủy điện,. cũng có những mặt phi giá trị của nó; và những hiện tượng tưởng chừng không tốt đẹp như mại dâm, chiến tranh,. cũng có những mặt giá trị của nó.
BÀI 1: TỔNG QUAN VỀ VĂN HÓA VÀ VĂN HÓA DOANH NGHIỆP Ra Chính vì thế, giá trị chỉ là khái niệm mang tính tương đối, nó phụ thuộc vào chu thể, không gian và thời gian. Vì vậy, muốn xác định được giá trị của một sự vật (khái niệm) thì phải xem xét sự vật (khái niệm) trong bối cảnh "không gian - thời gian — chủ thể” cụ thể, trong mối tương quan giữa mức độ giá trị và phi giá trị của nó. Để đi sâu vào khái niệm văn hóa thì tính giá trị là đặc trưng quan trọng nhất. Nhờ đó, chúng ta có thể phân biệt văn hóa với phi văn hóa, phân biệt văn hóa thấp với văn hóa cao, phân biệt văn hóa theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp.
Chúng ta có thể có được cái nhìn biện chứng và khách quan trong việc đánh giá tính giá trị của sự vật (hiện tượng), tránh được những xu hướng cực đoan (tức là phủ nhận hất hoặc là tán dương quá mức một sự vật, hiện tượng) chính là nhờ tính giá trị.3 Tính nhân sinh Văn hóa là một hiện tượng xã hội, là sản phẩm hoạt động thực tiễn của con người. Theo nghĩa này, văn hóa đối lập với tự nhiên: nó là cái nhân tạo, trong khi tự nhiên là cái thiên tạo. Nhưng nó không phải là sản phẩm của hư vô, mà có nguồn gốc tự nhiên: văn hóa là cái tự nhiên đã được biến đổi dưới tác động của con người, là "phần giao" giữa tự nhiên và con người. Do đó, văn hóa và con người là hai khái niệm không tách rời nhau, con người là chủ thể sáng tạo ra văn hóa, đồng thời chính bản thân con người cũng là một sản phẩm của văn hóa.
Tính nhân sinh tạo ra những khả năng không sẵn có trong bản thân sự việc (hiện tượng) mà được con người gán cho để đáp ứng các nhu cầu của con người, đó là giá trị biểu trưng. Tính nhân sinh kéo theo tính biểu trưng của văn hóa. Tính nhân sinh cho phép phân biệt loài người sáng tạo với loài vật bản năng, phân biệt văn hóa với những giá trị tự nhiên chưa mang dấu ấn sáng tạo của con người (như các tài nguyên khoáng sản trong lòng đất). Sự tác động của con người đối với tự nhiên có thể mang tính vật chất (như việc luyện quặng để chế tạo đồ dùng, đão gỗ tạc tượng) hoặc mang tính tỉnh thần (như việc đặt tân, tạo truyền thuyết cho các cảnh quan thiên nhiên: vịnh Hạ Long, núi Ngũ Hành, hòn Vọng Phu,.
Văn hóa là sản phẩm trực tiếp của con người và gián tiếp của tự nhiên. Văn hóa là cái tự nhiên được biến đổi bởi con người, là một "tự nhiên thứ hai”. a BAI 1: TONG QUAN VE VAN HOA VA VAN HOA DOANH NGHIEP 1.4 Tinh lich sw Tính lịch sử của văn hóa thể hiện ở chỗ nó bao giờ cũng hình thành trong một qua trình và được tích lũy qua nhiều thế hệ. Tính lịch sử tạo cho văn hóa một bề dày, một chiều sâu; và chính nó buộc văn hóa thường xuyên tự điều chỉnh, tiến hành phân loại và phân bố lại các giá trị.
Tính lịch sử của văn hóa được duy trì bằng truyền thống văn hóa. Truyền thống (truyền = chuyển giao, thống = nối tiếp) là cơ chế tích lũy và truyền đạt kinh nghiệm qua không gian và thời gian trong cộng đồng. Truyền thống văn hóa là những giá trị tương đối ổn định (những kinh nghiệm tập thể) thể hiện dưới những khuôn mẫu xã hội được tích lũy và tái tạo trong cộng đồng người qua không gian và thời gian và được cố định hóa dưới dạng ngôn ngữ, phong tục, tập quán, nghỉ lễ, luật pháp, dư luận,. Tính lịch sử tạo ra tính ổn định của văn hóa và nó cần cho việc phân biệt giữa văn hóa - cái được tích lũy lâu đời và văn minh - trình độ phát triển ở một thời điểm nhất định.3 Các yếu tố cấu thành văn hóa Văn hóa là một phạm trù phức tạp và đa dạng.
Để hiểu bản chất của văn hóa, cần xem xét các yếu tố cấu thành văn hóa. Dựa vào khái niệm về văn hóa, có thể chia văn hóa thành hai lĩnh vực cơ bản là văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần.1 Văn hóa vật chất Văn hóa vật chất là toàn bộ những giá trị sáng tạo được thể hiện trong của cải vật chất do con người tạo ra. Đó là các sản phẩm hàng hóa, công cụ lao động, tư liệu tiêu dùng, cơ sở hạ tầng kinh tế như giao thông, thông tin, nguồn năng lượng; cơ sở hạ tầng xã hội như chăm sóc sức khỏe, nhà ở, hệ thống giáo dục và cơ sở hạ tầng tài chính như ngân hàng, bảo hiểm, dịch vụ tài chính trong xã hội. Văn hóa vật chất được thể hiện qua đời sống vật chất của quốc gia.
Chính vì vậy văn hóa vật chất sẽ ảnh hưởng lớn đến trình độ dân trí, lối sống của các thành viên trong nền kinh tế đó. Một điểm lưu ý khi xem xét đến văn hóa vật chất, chúng ta xem xét cách con người làm ra những sản phẩm vật chất thể hiện ở tiến bộ kỹ thuật và BÀI 1: TỔNG QUAN VỀ VĂN HÓA VÀ VĂN HÓA DOANH NGHIỆP nghệ thuật, ai làm ra chúng và tại sao. Tiến bộ kỹ thuật và công nghệ ảnh hưởng đến mức sống và giúp giải thích những giá trị và niầm tin của xã hội. Chẳng hạn nếu một quốc gia tiến bộ về kỹ thuật, con người ít tin vào số mệnh và họ tin tưởng rằng có thể kiểm soát những điều xảy ra đối với họ.
Những giá trị của họ cũng thiên về vật chất bởi vì họ có mức sống cao hơn. Như vậy, một nần văn hóa vật chất thường được coi là kết quả của công nghệ và liên hệ trực tiếp với việc xã hội đó tổ chức hoạt động kinh tế của mình như thế nào.2 Văn hóa tỉnh thân Văn hóa tinh thần là toàn bộ những hoạt động tinh thần của con người và xã hội bao gồm kiến thức, các phong tục, tập quán, thói quen, cách ứng xử, ngôn ngữ (bao gồm cả ngôn ngữ có lời và ngôn ngữ không lời), các giá trị và thái độ, các hoạt động văn hóa nghệ thuật, tôn giáo, giáo dục, các phương thức giao tiếp và cách thức tổ chức xã hội. Kiến thức là nhân tố hàng đầu của văn hóa, thường được đo một cách hình thức bằng trình độ học vấn, trình độ tiếp thu và vận dụng kiến thức khoa học, hệ thống kiến thức được con người phát minh, nhận thức và được tích lũy lại, bổ sung nâng cao và không ngừng đổi mới qua các thế hệ. Các phong tục tập quán là những qui ước thông thường của cuộc sống hàng ngày như nên mặc như thế nào, cách sử dụng các đồ ăn uống trong bữa ăn, cách xử sự với những người xung quanh, cách sử dụng thời gian,.
Phong tục tập quán là những hành động ít mang tính đạo đức. Sự vi phạm phong tục tập quán không phải là vấn đề quan trọng, người vi phạm chỉ bị coi là không biết cách cư xử chứ ít khi bị coi là hư hỏng hay xấu xa. Vì thế, người nước ngoài có thể được tha thứ cho việc vi phạm phong tục tập quán lần đầu tiên đến một nước khác. Tập tục có ý nghĩa lớn hơn so với tập quán, nó là những qui tắc được coi là trọng tâm trong đời sống xã hội, việc làm trái tập tục có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng.
Chẳng hạn như tập tục bao gồm các yếu tố như sự lên án các hành động trộm cắp, ngoại tình, loạn luân, giết người,. Ở nhiều xã hội, một số tập tục đã được cụ thể hóa trong luật pháp. tm BAI 1: TONG QUAN VE VAN HOA VA VAN HOA DOANH NGHIEP Thói quen là những cách thực hành phổ biến hoặc đã hình thành từ trước. Cách cư xử là những hành vi được xem là đúng đắn trong một xã hội riêng biệt.
Thói quen thực hiện cách sự vật được làm, cách cư xử được dùng khi thực hiện chúng. Chẳng hạn, thói quen ở Mỹ là ăn món chính trước khi ăn món tráng miệng. Khi thực hiện thói quen này, họ dùng dao và nĩa ăn hết thức ăn trên nĩa và không nói khi có thức ăn trong miệng. Ở nhiều nước trên thế giới, thói quen và cách cư xử hoàn toàn khác nhau.
Ở các nước La tinh có thể chấp nhận việc đến trễ, nhưng ở Anh và Pháp, sự đúng giờ là giá trị. Giá trị là những niềm tin và chuẩn mực chung cho một tập thể người được các thành viên chấp nhận; còn thái độ là sự đánh giá, sự cảm nhận, sự phản ảnh trước một sự vật dựa trên các giá trị. Chẳng hạn thái độ của nhiều quan chức tuổi trung niên của Chính phủ Nhật Bản với người nước ngoài không thiện chí, họ cho rằng dùng hàng nước ngoài là không yêu nước.