1 CÁC LOẠI BẢO HIỂM THUỘC HỆ THỐNG AN SINH XÃ HỘI 3.1 KHÁI NIỆM AN SINH XÃ HỘI Cuộc sống của mỗi cá nhân và gia đình họ phụ thuộc vào nhều yếu tố chủ quan (khả năng lao động, tìm kiếm thu nhập, tạo nên của cải) và thực tế không thể tránh khỏi những trường hợp gặp rủi ro, bất trắc, khó khăn khiến họ bị giảm, mất thu nhập hoặc các điều kiện sinh sống khác…. Những biến cố, điều kiện thiên nhiên và xã hội không thuận lợi cũng làm cho một bộ phận dân cư cần có sự giúp đỡ nhất định của xã hội để ổn định cuộc sống. Ngay từ xa xưa, trước những khó khăn, rủi ro trong cuộc sống, bên cạnh việc chấp nhận tự khắc phục, các thành viên của một cộng đồng vẫn có được sự san sẻ, đùm bọc, cưu mang của cộng đồng. Sự tương trợ dần dần được mở rộng và phát triển dưới nhiều hình thức khác nhau.
Những yếu tố đoàn kết, hướng thiện đó đã tác động tích cực đến ý thức và công việc xã hội của các Nhà nước dưới các chế độ xã hội trong quá trình phát triển xã hội loài người. Nói cách khác, nếu trong xã hội có những nhóm người gặp rủi ro, bất hạnh thì cũng chính trong xã hội đó sẽ nảy sinh những cơ chế hoặc tự phát, hoặc có tổ chức thích ứng để giúp đỡ họ và đó là cơ sở để hệ thống ASXH hình thành và phát triển. Năm 1850, lần đầu tiên ở Đức, nhiều bang đã thành lập quỹ ốm đau và yêu cầu công nhân phải đóng góp để dự phòng khi bị giảm thu nhập vì bệnh tật. Lúc đầu chỉ có giới thợ tham gia, dần dần các hình thức bảo hiểm mở rộng cho các trường hợp rủi ro nghề nghiệp, tuổi già và tàn tật.
Đến cuối những năm 1880, ASXH (lúc này trước hết là BHXH) đã mở ra hướng mới - sự tham gia là bắt buộc và không chỉ người lao động đóng góp mà giới chủ và Nhà nước cũng phải thực hiện nghĩa vụ của mình (cơ chế ba bên). Mô hình này của Đức đã lan dần ra châu Âu, sau đó sang các nước Mỹ Latin, rồi đến Bắc Mỹ và Canada vào những năm 30 của thế kỷ XX. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, ASXH đã lan rộng sang các nước giành được độc lập ở châu Á, châu Phi và vùng Caribê. Ngoài BHXH, các hình thức truyền thống về tương tế, cứu trợ xã hội cũng tiếp 81 tục phát triển để giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn như những người già cô đơn, người tàn tật, trẻ em mồ côi và những người không may gặp rủi ro vì thiên tai, hỏa hoạn… Các dịch vụ xã hội như dịch vụ y tế, dự phòng tai nạn, dịch vụ đặc biệt cho người tàn tật, người già, bảo vệ trẻ em… được từng bước mở rộng ở các nước tùy theo những điều kiện chính trị, kinh tế – xã hội khác nhau.
Như vậy, hệ thống ASXH dần được hình thành và phát triển rất đa dạng dưới nhiều hình thức khác nhau ở từng quốc gia, trong từng giai đoạn lịch sử. Đạo luật đầu tiên về ASXH (Social Security) trên thế giới là Đạo luật năm 1935 ban hành ở Mỹ. Đạo luật này quy định thực hiện chế độ bảo vệ tuổi già, chế độ tử tuất, tàn tật và trợ cấp thất nghiệp. Sau đó Tổ chức Lao động Quốc tế (International Labour Organization - ILO) chính thức dùng thuật ngữ ASXH trong các công ước quốc tế.
ASXH đã được tất cả các nước thừa nhận là một trong những quyền con người. Nội dung của ASXH đã được ghi nhận trong Tuyên ngôn nhân quyền do Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 10/12/1948. Trong bản Tuyên ngôn có viết: “Tất cả mọi người với tư cách là thành viên của xã hội có quyền hưởng ASXH. Quyền đó đặt cơ sở trên sự thõa mãn các quyền về kinh tế, xã hội và văn hoá cần cho nhân cách và sự tự do phát triển con người…”.
Ngày 25/6/1952, Hội nghị toàn thể của ILO đã thông qua Công ước số 102, được gọi là Công ước về ASXH (tiêu chuẩn tối thiểu) trên cơ sở tập hợp các chế độ về ASXH đã có trên toàn thế giới thành 9 bộ phận. Cũng cần chú ý là do tính chất phức tạp và đa dạng của ASXH nên vẫn còn nhiều nhận thức, quan điểm khác nhau về vấn đề này. Theo tiếng Anh, ASXH thường được gọi là Social Security và khi dịch ra tiếng Việt, ngoài ASXH thì thuật ngữ này còn được dịch là bảo đảm xã hội, bảo trợ xã hội, an ninh xã hội, an toàn xã hội… với những ý nghĩa không hoàn toàn tương đồng. Theo nghĩa chung nhất, Social Security là sự đảm bảo thực hiện các quyền của con người được sống trong hòa bình, được tự do làm ăn, cư trú, di chuyển, phát biểu chính kiến trong khuôn khổ luật pháp; được bảo vệ và bình đẳng trước pháp luật; được học tập, có việc làm, có nhà ở; được đảm bảo thu nhập để thoả 82 mãn những nhu cầu sinh sống thiết yếu khi bị rủi ro, tai nạn, tuổi già…Theo nghĩa này thì tầm “ bao quát” của Social Security rất lớn.
Theo nghĩa hẹp, Social Security được hiểu là sự bảo đảm thu nhập và một số điều kiện sinh sống thiết yếu khác cho người lao động và gia đình họ khi bị giảm hoặc mất thu nhập do bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm, cho những người già cả, cô đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật, những người nghèo đói và những người bị thiên tai, địch hoạ… Gắn với mục tiêu nghiên cứu, khái niệm về ASXH sẽ thống nhất theo Tổ chức lao động quốc tế: “ASXH chỉ sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên của mình thông qua một loạt những biện pháp công cộng nhằm chống đỡ sự hẫng hụt/khó khăn về kinh tế/xã hội do bị mất hoặc bị giảm đột ngột nguồn thu nhập gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp, tàn tật, tuổi già và chết, kể cả sự bảo vệ chăm sóc y tế và trợ cấp gia đình có con nhỏ/đông con” Khái niệm ASXH ở trên nhấn mạnh một số khía cạnh sau: Bản chất của ASXH là sự bảo vệ của xã hội đối với các thành viên xã hội Phương thức hoạt động là thông qua các biện pháp công cộng Mục đích là tạo ra sự “an sinh” cho các thành viên trong xã hội, giúp đỡ các thành viên xã hội trước những biến cố dẫn đến bị giảm/mất thu nhập ảnh hưởng đến đời sống, ASXH thể hiện sự đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau, tương thân tương ái của cộng đồng.do vậy mang tính xã hội và tính nhân văn. Đứng trên bình diện toàn xã hội, mục tiêu của ASXH là tạo ra một lưới an toàn gồm nhiều tầng, nhiều lớp bảo vệ cho mọi thành viên của cộng đồng trong những trường hợp bị giảm hoặc bị mất thu nhập hoặc phải tăng chi phí đột xuất trong chi tiêu của gia đình do nhiều nguyên nhân khác nhau – nói chung là do những biến cố và những “rủi ro xã hội”. Để tạo ra lưới an toàn gồm nhiều tầng, nhiều lớp, ASXH dựa trên nguyên tắc san sẻ trách nhiệm và thực hiện công bằng xã hội, được triển khai bằng nhiều hình thức, phương thức và các biện pháp khác nhau.ASXH là một công cụ để cải thiện các điều kiện sống của 83 các tầng lớp dân cư, đặc biệt là đối với những người nghèo khó, những nhóm dân cư “yếu thế” trong xã hội. Trên bình diện kinh tế, ASXH là một công cụ phân phối lại thu nhập giữa các thành viên trong cộng đồng, tạo ra một lưới ASXH (social safety net hoặc social security net) góp phần thực hiện công bằng và tiến bộ xã hội.2 HỆ THỐNG AN SINH XÃ HỘI TRÊN THẾ GIỚI Tuỳ theo điều kiện kinh tế-xã hội, hệ thống ASXH được xây dựng có sự khác nhau giữa các quốc gia trên thế giới.
Những hình thức cơ bản của ASXH - xét từ khía cạnh nguồn lực và đối tượng tác động bao gồm: + BHXH + Trợ giúp xã hội: sự giúp đỡ của nhà nước/xã hội về thu nhập và các điều kiện sinh sống thiết yếu đối với thành viên của xã hội trong những trường hợp bất hạnh, rủi ro, nghèo đói, không đủ khả năng để tự lo được cuộc sống tối thiểu của bản thân và gia đình. + Trợ cấp gia đình: trợ giúp những nhu cầu đặc biệt, những chi phí bổ sung gắn với cuộc sống của gia đình, ví dụ gia đình đông con + Các quỹ dự phòng/tiết kiệm: ngoài BHXH, trong hệ thống ASXH của nhiều nước có tổ chức các quỹ tiết kiệm dựa trên đóng góp cá nhân. Những đóng góp được tích tụ, sinh lời và dùng để chi trả cho mỗi cá nhân khi sự cố xảy ra, không có sự chia sẻ rủi ro giữa các thành viên cộng đồng. + Các dịch vụ xã hội khác được tài trợ nguồn vốn công cộng: ở nhiều nước, đặc biệt là ở các nước phát triển, trong hệ thống ASXH có nhiều dạng dịch vụ xã hội, được tài trợ bằng nguồn vốn công cộng (Ngân sách Nhà nước), ví dụ, chăm sóc đối với người già, người tàn tật, trẻ em, phục hồi chức năng cho người bị tai nạn và tàn tật, các hoạt động phòng chống trong y tế, kế hoạch hóa gia đình… Theo Công ước ILO Convention 102 on Social Security (Minimum Standards), gồm 9 phần (Part) 1)Chăm sóc y tế (Medical Care) 84 2)Trợ cấp ốm đau (Sickness benefit) 3)Trợ cấp thất nghiệp (Unemployment benefit) 4)Trợ cấp hưu trí (Old - age benefit) 5) Trợ cấp tai nạn LĐ và bệnh nghề nghiệp (Employment injury benefit) 6)Trợ cấp gia đình (Family benefit) 7)Trợ cấp thai sản (Materity benefit) 8)Trợ cấp tàn tật (Invalidy benefit) 9)Trợ cấp mất người nuôi dưỡng/tử tuất (Survivor’s benefit) 3.2 KHÁI QUÁT VỀ CÁC LOẠI BẢO HIỂM THUỘC HỆ THỐNG AN SINH XÃ HỘI Ở VIỆT NAM 3.1 Những loại bảo hiểm thuộc hệ thống an sinh xã hội Hệ thống ASXH ở Việt Nam trải qua quá trình hình thành, phát triển với những dấu ấn riêng.
Những nội dung của ASXH cũng đã được thực hiện, đó là: BHXH đối với công nhân, viên chức Nhà nước (trước năm 1995); là cứu trợ xã hội đối với những người nghèo, người không may bị rủi ro trong cuộc sống; là ưu đãi xã hội đối với những người có công với đất nước. Một đặc trưng cơ bản của các hoạt động ASXH ở Việt Nam trong thời kỳ trước đổi mới là do Nhà nước thực hiện. Nhà nước đảm nhận cả hai vai, của mình.Với cơ chế điều hành này cùng nguồn lực tài chính chủ yếu là từ ngân sách Nhà nước, chưa có sự tham gia đông đảo của người dân, của cả xã hội.