phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo thì đề tài có bố cục gồm 3 chương. Chƣơng I - Khái quát về nghệ thuật ca trù tại Hà Nội Chƣơng II - Hoạt động của các câu lạc bộ ca trù tại Hà Nội Chƣơng III - Những ý kiến đóng góp để bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa cũng nhƣ tinh thần của nghệ thuật ca trù 8 CHƢƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ NGHỆ THUẬT CA TRÙ TẠI HÀ NỘI 1. Khái quát nghệ thuật ca trù 1. Ca trù là gì? Ca trù còn gọi là hát ả đào hay hát cô đầu.
Một loại ca nhạc thính phòng thịnh hành trong giới nho sĩ miền Bắc (từ Nghệ Tĩnh trở ra) dưới thời phong kiến (từ khoảng thế kỷ XV đến đầu thế kỷ XX), đặc biệt là ở các đô thị (Hà Nội, Nam Định,.) Gọi là ca trù vì khi nghe người ta thường dùng „ trù‟ (cái thẻ tre) để thưởng những chỗ hát hay, cuối cùng đếm thẻ để bình giá và thưởng tiền. Hát ca trù có cả đào lẫn kép nhưng đào là chủ yếu nên được gọi là hát ả đào (về sau, đầu thế kỷ XX mới gọi là hát cô đầu, hát nhà trò). Ca trù vốn có nguồn gốc từ lối hát cửa đình (hát thờ, hát tế thần phổ biến ở nước ta từ thời Trần), qua hình thức hát cửa quyền, hát đám (hát chúc tụng, khao vọng tại các nhà quyền quý, quan lại) và cuối cùng, tiến tới hình thức ca nhạc thính phòng. Khái niệm ca trù sớm nhất hiện biết là Thế kỷ XVI, được ghi trong “Đại nghĩ bát giáp thưởng đào giải văn” của Lê Đức Mao.
Lược sử ca trù Ca trù bắt nguồn từ lối ca vũ trong cung vua chúa thời xưa. Ca vũ của ta một phần chịu ảnh hưởng của ca vũ Trung Quốc, một phần chịu ảnh hưởng của các điệu múa hát Chiêm Thành và của các rợ do những cuộc chinh phục thời Lý, Trần du nhập vào. Từ đời Đinh và Tiền Lê trở về trước không có sách nào nói đến ca vũ và nhạc nhưng sang đến đời Lý, đời Nguyễn xuất hiện các sách chính sử và 9 dã sử ghi chép rõ ràng. Lối hát ả đào có từ đời nhà Lý, lúc đó, người đi hát gọi là “con hát” (chữ Hán gọi là xướng nhi hoặc ca nữ).
Đời nhà Lê, ca trù hay hát ả đào ở trong cung gọi là nữ nhạc hay hát cửa quyền, có quan Thái thường dạy cung bậc dùng vào các dịp quan trọng. Trong dân gian lại gọi là hát ả đào, có quản giáp các giáo phường dạy bảo, dùng khi các đền tế lễ hay tư gia mừng thọ, đám cưới. Tuy nhiên, khúc ca, tiếng hát và điệu bộ đã theo thời gian mà biến đổi. Những lối hát ca trù ngày xưa như: Thét nhạc, Dâng hương, Cung bắc, Ngâm vọng với giai điệu chân phương, chất phác, giản dị đã có bước biến đổi to lớn thành lối Hát nói, Hát mưỡu, Bắc phản, Tỳ bà với nét nhạc bóng bẩy, thanh âm du dương.
Theo “Việt sử tiêu án” của Ngô Thời Sỹ, đời vua Lý Thái Tổ (1010-1028) có người ca nhi là Đào Thị hát rất hay từng được vua ban thưởng, sau này con hát được gọi là đào nương. Sách “Khâm định Việt sử” cũng chép : “ năm Thuận Thiên thứ 16 (1025) vua Lý Thái Tổ đặt chức quản giáp cho giới con hát”. Như vậy, có thể nói hát ả đào hay ca trù có từ trước đời Lê rất lâu, ít nhất cũng có từ đời Lý. Con người hễ biết nói là biết múa hát để bày tỏ tình cảm, và múa hát theo một phương thức nhất định được gọi là ca trù.
Tuy vậy, ca trù tiến hóa không ngừng về khúc hát và âm luật. Đến đời Lê, danh ca Bạch Hoa cùng chồng là Đinh Lễ đặt ra đàn đáy, chế biến âm luật, thu nhận đệ tử, làm rạng rỡ cho giáo phường nên khi mất đi được suy tôn làm Tổ cô đầu. Điều này cũng cho thấy tinh thần thờ phụng tổ tiên cổ truyền của dân tộc ta. Đặc điểm nghệ thuật ca trù Khác với rất nhiều hình thức nghệ thuật cổ truyền, những người hành nghề ca trù là những người làm nghề mang tính chuyên nghiệp rất cao.
10 Họ sống với nhau và truyền nghề cho nhau trong dòng tộc, không mấy khi truyền nghề ra ngoài dòng tộc. Các dòng tộc ở thành từng xóm gọi là xóm nhà trò. Mỗi xóm nhà trò bầu lấy một người có uy tín nghề nghiệp, có quan hệ rộng rãi với các “làng trong, xã ngoài” làm trùm phường để cắt đặt quyền hát cửa đình cho con dân trong họ. Ca trù có ba không gian văn hoá chính và cũng là ba địa điểm trình diễn chính là: Không gian văn hoá hát thờ (còn gọi là hát cửa đình); Không gian văn hoá hát chơi; Và không gian văn hoá hát chúc hỗ (còn gọi là hát cửa quyền).
Ở mỗi không gian văn hoá ca trù phải đảm nhiệm một chức năng xã hội nhất định và trong mỗi chức năng xã hội ấy ca trù đã sinh ra những nội dung nghệ thuật, những hình thức biểu diễn, những thể cách âm nhạc khác nhau nhằm mục đích thoả mãn những nhu cầu của mỗi không gian văn hoá trình diễn. Đây là một đặc điểm duy nhất chỉ có ở ca trù mà không có ở những hình thức nghệ thuật cổ truyền khác. Ca trù là hình thức nghệ thuật có tổ chức gọn nhẹ nhất trong các hình thức nghệ thuật cổ truyền Việt Nam nhưng lại tạo ra được một hình thức âm nhạc trác tuyệt, độc nhất vô nhị trên thế giới. * Phân loại Ngày xưa, ca trù có ba loại chính.
-Hát chơi: biểu diễn tại các nhà của những người hâm mộ ca trù hay tại nhà ca sĩ. -Hát cửa đình: biểu diễn tại đình làng. -Hát thi: biểu diễn để tranh giải thưởng. Phổ biến nhất là hát chơi với số ít khán giả, nhằm để giải trí.
11 * Chất liệu Trong nghệ thuật ca trù, thơ là một thành tố quan trọng. Ca trù có nhiều làn điệu, nhiều thể ca trù sử dụng các thể thơ quen thuộc và thuần Việt như lục bát, song thất lục bát. Trong số 34 thể ca trù mà thư tịch Hán Nôm có ghi nhận về lời thơ thì các thể thơ được dùng trong ca trù là : + Thể lục bát: dùng trong 17 thể ca trù. + Thể song thất lục bát: dùng ở một thể ca trù.
+ Thể thơ 7 chữ và một câu lục cuối bài: dùng trong 3 thể ca trù. + Thể thơ Đường luật (thất ngôn, tứ tuyệt): dùng trong 8 thể ca trù. + Thể phú: dùng trong 1 thể ca trù + Thơ Đường luật trường thiện: dùng trong 2 thể ca trrù + Thể hát nói là thể riêng của ca trù. Thơ lục bát là thể thơ được sử dụng phổ biến trong ca trù, nhất là trong các điệu như: Bắc phản Hồng Hạnh, Non mai, Đại Thạch… Đặc biệt, trong các thể thơ dùng trong ca trù thì thể hát nói để lại số lượng nhiều nhất, và được ưa chuộng nhất.
Hát nói đã gắn với các tên tuổi lớn trong lịch sử văn học Việt Nam như Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến, Tản Đà… * Nội dung chính của bài ca trù Ca trù lấy chất liệu chính từ thể hát nói. Do vậy, nội dung của các bài hát ca trù cũng được chuyển tải qua nội dung tư tưởng của những bài hát nói. Ta có thể bắt gặp trong ca trù tư tưởng chính thống của nho gia biểu hiện qua hình ảnh người quân tử gánh vác non sông, đau niềm đau nhân thế. Ta lại có thể thấy tinh thần của Thiền trong những bài hát nói thoát tục của Nguyễn Thượng Hiền, Chu Mạnh Trinh.
12 Đặc biệt trong các bài hát ca trù ta còn bắt gặp ảnh hưởng của tư tưởng Lão Trang. Điều này được đề cập tới rất sớm trong sách “Đào nương ca” của Nguyễn Văn Ngọc. Tư tưởng Lão Trang tập trung ở những khía cạnh sau: -Tinh thần tự do, tự tại, thoát khỏi quy phạm của Nho giáo. -Thiên nhiên trong ca trù là thiên nhiên tiên giới và mộng ảo.
-Hưởng lạc đã trở thành triết lý để thực hiện “vô” , chỉ nhằm mục đích chính đáng là giải trí. * Bố cục một bài ca trù Theo sách “Ca trù thể cách” thì ta có thể sắp xếp bố cục một bài hát ca trù gồm 11 câu như sau: Câu 1 và 2 gọi là tống mạo Câu 3 và 4 gọi là thừa đề Câu 5, 6 dùng lối thất ngôn, cổ thi hoặc quốc âm, nói tới đại ý của toàn bài. Câu 7, 8, 9, 10 nói theo ý của câu 5, 6 để mở rộng thêm. Câu 11: tổng kết ý nghĩa toàn bài.
Đôi khi, kết thúc câu thứ 11 lại có thêm 2 hoặc 4 câu nữa liền sau đó để mở rộng thêm ý tứ của bài hát. * Âm luật Ca trù có 5 cung chính là (theo Nguyễn Đôn Phục). -Cung nam: điệu nhanh, hơi trong nhưng bằng phẳng và xuống thấp. -Cung bắc: điệu hát khan, hơi đục nhưng rắn rỏi và lên cao.
-Cung huỳnh: điệu xúc, ngặt, hát dính vào nhau. -Cung pha: trong và đục pha lẫn, hơi ai oán, hát chệch. -Cung nao: điệu chênh chênh, đục ở dưới, trong ở trên. 13 * Đổi âm thể Hiểu một cách đơn giản nhất thì “đổi âm thể” (còn gọi là “chuyển âm” dùng để chỉ khi nói tới việc đổi giọng của ả đào.
Trong lối hát ả đào, hầu như bài nào cũng có đổi giọng ở từng đoạn trong bài hát. * Các điệu hát thông dụng Theo các thư tịch ghi lại thì có khoảng 50 điệu hát ca trù. Trong đó có các điệu phổ biến như: -Thét nhạc: là khúc hát đầu tiên của lối hát cửa đình. Sau phần giáo trống, giáo hương, cô đầu và kép chia nhau đứng hai bên hương án hát bài thét nhạc.
Thét nhạc chú trọng về nhạc, về giai điệu tạo nhạc cảm cho tiệc hát mà ít chú trọng về lời. -Hát giải: Sau khi hát bài thét nhạc, đào kép ngồi xuống chiếu, hát bài theo thể hát nói cửa đình gọi là hát giải. -Hát mùa đại thạch: là điệu hát kèm theo múa rối vui -Cung bắc: là điệu hát của cung nữ nương vua, một trong nhưng điệu cổ nhất của ca trù. -Bắc phản: (hát mở) khi bắt đầu vào chầu hát ở ca quán, ả đào thường hát bài này sau khi dạo đàn, phát hết khổ “lá đầu”.
* Nhạc cụ Để biểu diễn một bài ca trù, đào kép phải cần tới ba dụng cụ chính là đàn đáy, phách, trống. Đàn đáy là nhạc cụ đặc trưng cho lối hát ca trù, còn gọi là vô đề cầm nghĩa là đàn không đáy. Đàn có ba dây, 11 phím, thùng vuông, thân dài.