Chương I: Xu hướng toàn cầu hóa, khu vực hóa nền kinh tế thương mại thế giới. - - Chương II: Những biện pháp phi thuế quan hiện hành của Việt Nam. -_ Chương III : Giải pháp điều chỉnh hệ thống biện pháp phi thuế quan của Việt Nam trong xu thế toàn cầu hóa, khu vực hóa. [1] và [2] : Nghị quyết 04 Ban Chấp hành Trung Ương Đảng Khóa VIIT ngày 29/12/1997.
CHUONG1 XU HUONG TOAN CAU HOA, KHU VUC HOA VA VAI TRO CUA TO CHUC THUONG MAI THE GIOI (WTO) I. Xu thé toan c4u héa, khu vuc héa nén kinh té thudng mai thé giới. Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và vai trò điều tiết thương mại toàn cầu. Những biện pháp phi thuế quan do WTO điều chỉnh.
CHUONG 1 XU HƯỚNG TOÀN CÂU HÓA, KHU VỰC HÓA VA VAI TRÒ CỦA TỔ CHỨC THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI (WTO) I XU THẾ TOÀN CẦU HÓA, KHU VỰC HÓA NỀN KINH TẾ THƯƠNG MẠI THẾ GIỚI. Việt Nam đi vào thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong bối cảnh thế giới đang diễn ra những thay đổi to lớn về kinh tế, chính trị và xã hội. Xu thế hòa bình, hợp tác để phát triển ngày càng trở thành đòi hồi bức xúc của các quốc gia và dân tộc trên thế giới. Tất cả các nước đều dành ưu tiên cho phát triển kinh tế, cần có môi trường kinh tế ổn định và thực hiện chính sách mở cửa.
Những tiến bộ kỳ Ww diệu của khoa học kỹ thuật trong mọi lãnh vực đã làm cho bộ mặt của kinh tế thé giới thay đổi cơ bản, năng suất không ngừng tăng, phân công lao động quốc tế sâu sắc hơn bao giờ hết, tính tùy thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế thế giới đã đưa các quốc gia xích lại gần nhau, giẩm đi những đối đầu và xung đột, tăng cường sự hợp tác toàn diện và vai trò các thể chế đa phương thế giới và khu vực ngày cảng tăng cùng với xu thế phát triển của quan hệ quốc tế hiện đại. Toàn cầu hóa : Thương mại thế giới đã và đang có những biến đổi sâu sắc trong những thập kỷ qua theo hướng mở cửa và tự do hóa trên phạm vi toàn cầu. Trong thế kỷ 20, GDP tăng 15 lần (theo giá USD năm 1990), cơ cấu kinh tế thế giới cũng chuyển biến mạnh mẽ, với tỷ trọng nông nghiệp ngày càng giảm, công nghiệp, nhất là công nghiệp chế tạo có hàm lượng khoa học công nghệ cao gia tăng, tỷ trọng ngành dịch vụ tăng mạnh. Đến năm 1990, nông nghiệp chỉ chiếm 4,4%;-công nghiệp chiếm 21,4%; dịch vụ 62,4% trong cơ cấu kinh tế thế giới.
Sự biến đổi mang tính toàn cầu mang những đặc điểm cơ bản là : - Sự phát triển như vũ bảo của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, đặt biệt vào nửa cuối thế kỷ 20, trong các ngành năng lượng, sinh học, vật liệu mới, vũ trụ, nhất là điện tử và tin học. Khoa học và công nghệ gắn bó mật thiết với nhau. Những thành tựu trong nghiên cứu được ứng dụng nhanh và mở rộng phạm vi nhiều lãnh vực sản xuất, thương mại và đời sống, làm cho giá thành ngày càng giảm, chất lượng ngày càng tăng và tính cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt. Kinh tế thế giới đang chuyển dần sang kinh tế tri thức, kinh tế số hóa.
- Thuong mai va đầu tư phát triển mạnh mẽ góp phần thúc đẩy sản xuất. Trong thế kỷ thứ 20, thương mại thế giới tăng 27 lần (năm 1950 đạt 61 tỷ USD, đến năm 1990 đạt hơn 3.000 tỷ USD, và hiện nay trên 6. - Su phân công lao động quốc tế, sự ra đời và phát triển các phương tiện giao thông, thông tin liên lạc, điện tử hóa đã đưa các quốc gia xích lại gần nhau, tính tùy thuộc lẫn nhau mạnh hơn bao giờ hết, góp phần đẩy mạnh sản xuất và lưu thông. Nền kinh tế thị trường phổ cập với luật chơi chung thống nhất theo hướng tự do hóa, giảm thuế và hàng rào phi thuế thông thoáng, thuận lợi giúp các nhà doanh nghiệp mở rộng không ngừng đầu tư, sản xuất và phát triển thương mại.
- - Một hình thái hoạt động thương mại mới ra đời cùng với tiến bộ của khoa học kỹ thuật là “Thương mại điện tử”. Phương thức kinh doanh tiên tiến hiện đại này đã và đang được ứng dụng rộng rãi, nhưng ưu thế lúc này vẫn chỉ giới hạn chủ yếu ở những nước phát triển. Các nước đang phát triển đang nổ lực vươn lên, nhưng cũng phải đương đầu với nhiều thách thức nghiệt ngã. 178 nước thành viên của Tổ chức Thương mại Phát triển (UNCTAD) đã cam kết thời gian 7 “thực hiện buôn bán không giấy tờ” là vào năm 2005 đối với các nước phát triển và 2010 đối với các nước đang phát triển.
Các quốc gia trên thế giới ngày càng nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của hợp tác quốc tế, thừa nhận tính đa dang (diversity) để hội nhập tạo sức mạnh bổ túc lẫn nhau (complementary) để phát triển. Nếu như sau Đại chiến lần thứ hai, mới chỉ có 23 nước ý thức được tầm quan trọng này để ngồi lại với nhau, cùng nhau xây dựng luật chơi chung cho thương mại quốc tế, để ra đời Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) vào 1/1/1948, thì tới nay Tổ chức Thương mại Thế giới, điều tiết không chỉ thương mại hàng hóa nà còn mở rộng ra các lĩnh vực : thương mại dịch vụ, đầu tư, quyên sở hữu trí tuệ, chiếm 98% tổng kim ngạch mậu dịch toàn cầu, nhằm mục tiêu tự do hóa và thuận lợi hóa thương mại và đầu tư, đại diện cho trào lưu toàn cầu hóa đang phát triển mạnh mẽ trên toàn thế giới. Khu vực hóa : Song song với xu thế toàn cầu hóa, các quốc gia có những đặc điểm tương đồng về kinh tế, văn hóa, xã hội có vị trí địa lý gần nhau đã liên kết nhau lại ở các thể chế kinh tế, thương mại khu vực. Sự ra đời của Liên minh Châu Âu (EU), Thị trường.
chung Châu Âu (Single market), Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) với Khu vực Thương mại Tự do ASEAN (AFTA), Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Chau A — Thái Bình Dương (APEC), Hợp tác Á - Âu (ASEM), Khu vực Thương mại Tự do Bắc Mỹ (NAFTA), Nam Mỹ (MERCOSUR), v. là những dấu ấn điển hình cho xu thế này. Với khoảng trên 150 thực thể liên kết khu vực hiện hành, kinh tế thương mại thế giới đã tạo dựng được những xung lực mới. Tất cả đều cam kết tuân thủ các nguyên tắc của WTO, thực hiện chính sách kinh tế mở, hướng ngoại, không co cụm và phấn đấu thực hiện tự do hóa, thuận lợi hóa thương mại và đầu tư.
Khu vực Thương mại Tự do ASEAN (AFTA) cam kết tới năm 2003 sẽ giảm thuế con 0 — 5% va tới 2015 sẽ thực hiện 100% các mặt hàng có thuế suất 0%. Song song với việc cắt giảm thuế là từng bước giảm bớt và xóa bỏ hàng rào phi thuế quan, đặt biệt là hạn ngạch và giấy phép và rao can thương mại khác. AFTA quy định loại bỏ ngay hạn ngạch đối với các mặt hàng trong chương trình CEPT, còn các hàng rào phi thuế quan khác sẽ được loại bổ dần trong 5 năm để kết thúc vào năm 2003 với Brunây, Inđônêxia, Malâyxia, Philippin, Xingapo và Thái Lan; và năm 2006 với Việt Nam; 2008 với Lào, Myanmar và Campuchia. APEC cũng đặt mục tiêu xóa bổ dần các hàng rào phi thuế quan và thời hạn thực hiện mục tiêu tự do hóa thương mại và đầu tư của APEC là năm 2010 với các thành viên phát triển và năm 2020 với các thành viên đang phát triển.
Các tổ chức khu vực khác cũng đã và đang phấn đấu cho mục tiêu đó, tuy phương thức và tốc độ, bước đi khác nhau nhưng đều thống nhất ở mục tiêu tự do hóa thương mại và đầu tư. Xu thế khu vực hóa bổ trợ cho xu thế toàn cầu hóa tạo sức mạnh liên kết khu vực về công nghệ, kỹ thuật, về tiềm lực kinh tế, tài chính, tài nguyên, về thế đứng kinh tế và chính trị nhằm vào mục tiêu tự do hóa, thuận lợi hóa, tạo nền tảng vững chắc cho kinh tế phát triển không ngừng và bền vững. Về Hiệp định thương mại Việt - Mỹ mới vừa ký, thì Mỹ nắm giữ quyền gia hạn Hiệp định hằng năm và một số điểm trong Hiệp định có nội dung cao hơn so với thông lệ đặt ra trong WTO. Quyền gia hạn Hiệp định hằng năm là dựa trên tu chính án có tên là Jackson - Vanik của Quốc hội Mỹ.
Và có thể Việt Nam buộc phải nhượng bộ thêm một số nội dung khác để được gia hạn. Tu chính án sẽ mất hiệu lực khi Hiệp định thương mại Việt - Mỹ trở nên thường trực trong trường hợp Việt Nam trở thành thành viên của WTO. Như vậy Việt Nam cần nhanh chóng xúc tiến việc đàm phán gia nhập vào WTO để tránh được sức ép này. Tác động của xu thế.
toàn cầu hóa, khu vực hóa, thực hiện tự do hóa thương mại đối với Việt Nam và các nước đang phái triển : 3.1 Cơ hội : Việt Nam sẽ có những cơ hội thuận lợi cơ bản khi là thành viên của WTO như sau : 3.1 Hưởng những ưu đãi thương mại tránh được tình trạng bị phân biệt đối xử, nâng cao thế và lực trong thương mại quốc tế. Với tư cách là nước thành viên WTO, Việt Nam sẽ được hưởng các ưu đãi trong thương mại hàng hóa, dịch vụ, đầu tư mà các nước thành viên giành cho nhau thông qua Chế độ đãi ngộ Tối huệ quốc (Most favoured nations ~ MEN), Chế độ đãi ngộ quốc gia (National treatment —- NT), tránh được tình trạng bị phân biệt đối xử, gây bất lợi trong quan hệ kinh tế —- thương mại. Với tư cách là một nước đang phát triển, có thu nhập thấp, và đang trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế Việt Nam còn có thể được hưởng những ưu đãi riêng về miễn trừ, ân hạn trong việc thực hiện các nghĩa vụ thành viên cũng như trong việc tiếp cận thị trường để bán các sản phẩm của mình. Việt Nam có thể sử dụng cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO để bảo vệ quyền lợi chính đáng cửa mình trong trường hợp có tranh chấp thương mại với các nước thành viên, đặt biệt khi nước thành viên đó là cường quốc về kinh tế, 3.
Có cơ hội mở rộng thị trường, tăng cường xuất khẩu.