Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giới thiệu chung về loài Cà gai leo 1. Phân loại Cà gai leo có tên khoa học là Solanum procumbens Lour. Thuộc họ Cà: Solanaceae Tên gọi khác: Cây cà quýnh, cà quánh, cà quạnh, cà bò, cà hải nam, cà gai dây [5].
Loài Cà gai leo được J. De Loureiro định loại đầu tiên vào năm 1790 với tên khoa học là Solanum procumbens Lour. Cà gai leo thuộc chi Solanum, họ Cà (Solanaceae Juss), bộ Hoa mõm chó (Scrophulariales), liên bộ Bạc hà (Hoa môi) Lamianae, phân lớp Cúc (Asteridae), lớp Hai lá mầm (Dicotyledoneae) hay lớp Ngọc lan (Magnoliopsida), ngành Ngọc lan (Mộc lan) (Magnoliophyta), giới Thực vật Plantae [1], [2], [16]. Đặc điểm thực vật học Cà gai leo là loài thực vật sống nhiều năm, thuộc loại thân leo hay bò dài, thân dài 0,6-1m hay cao hơn.
Thân cây nhẵn, hóa gỗ và phân nhiều cành, trên có phủ lông hình sao. Trên các cành nhỏ cây Cà gai leo có phủ lông tơ dày, hình sao, trải dài suốt chiều dài thân là một lượng gai có màu vàng nhạt phân bố gần nhau, gai cong theo chiều quặm xuống dưới [2], [12], [23]. Lá hình trứng hay thuôn, phía gốc lá hình rìu hay hơn tròn, mép nguyên hay hơi lượn và khía thùy, mặt trên của lá có gai nhỏ, mặt dưới phủ lông mềm hình sao màu trắng nhạt, phiến dài 3 – 4 cm, rộng 12 – 20 cm, có gai, cuống dài 4 – 5 mm [4], [13]. Hoa mọc thành cụm ỏ nách lá, thường mỗi cụm hoa có tù 5 đến 7 bông.
Cuống cụm hoa dài khoảng 0,5cm, cuống hoa dài 1 – 1,5 cm, 4 đài hoa hình tam giác thuôn nhỏ đầu, dài khoảng 0,4cm. Tràng hoa 4 cánh màu trắng hoặc phớt tím, hình ô van thuôn dài, nhọn đáy, dài 0,6 – 0,7 cm. Nhị 4, màu vàng, chỉ nhị phình ra ỏ phần gốc. Bầu nhẵn có cuống dài [13].
Quả hình cầu, khi còn xanh có màu xanh sẫm điểm trắng, khi chín có màu đỏ tươi, bóng, nhẵn, đường kính 5 - 7mm. Hạt màu vàng, hình thận, có mạng, dài 4 mm, rộng 2 mm. Cà gai leo ra hoa tháng 4 - 9, tạo quả tháng 9 – 12 [4]. download by : skknchat@gmail.
Hình ảnh cây và hoa Cà gai leo 1. Đặc điểm sinh thái, phân bố Cây Cà gai leo là loài cây ưa ẩm, ưa sáng và có thể hơi chịu bóng, thường mọc tập trung nhiều cá thể, lẫn trong các bụi cây. Cây mọc ở chỗ có nhiều ánh sáng, sinh trưởng và phát triển tốt, ra hoa quả nhiều. Cây Cà gai leo là cây chịu hạn tốt, có khả năng thích nghi rộng với nhiều loại đất khác nhau từ đồng bằng cho đến miền núi, tốt nhất ở vùng đồng bằng và trung du, thích hợp với các vùng nắng nhiều, đất pha cát, thoát nước nhanh, không ngập úng.
Cây thích hợp với vùng đất có tầng canh tác dầy, tơi xốp, nhiều mùn, thuận lợi việc tưới tiêu và thoát nước tốt, không ngập úng, pH từ 4 đến 7, thích họp nhất là pH từ 5,5 – 6,5, sinh trưởng mạnh trong mùa xuân – hè, ra hoa quả hàng năm. Cà gai leo phát triển được khi nhiệt độ từ 17oC trở lên và sinh trưởng phát triển tốt nhất ở nhiệt độ 25 – 28oC [4], [11], [13], [16]. Trên thế giới Cà gai leo chỉ thấy ở vùng nhiệt đới Châu Á, từ đảo Hải Nam, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc xuống đến Việt Nam, Campuchia và Thái Lan. Ở Việt Nam, Cây cà gai leo mọc hoang ở khắp nơi tại các tỉnh miền Bắc tới Huế.
Tập trung nhiều ở các tỉnh Thái Bình, Nam Hà, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh [2]. Cách phân biệt Cà gai leo với các loại Cà khác Cà gai leo chỉ có một loại với các đặc điểm thực vật học ở trên. Tuy nhiên, trong tự nhiên có 4-5 loại cà gai, chúng thường mọc xen kẽ, Cà gai leo dễ bị nhậm lẫn với cây cà dại bởi hình dáng gần giống nhau. Dưới đây là một số đặc điểm để phân biệt Cà gai leo với các loại Cà gai dại.
download by : skknchat@gmail. Phân biệt các loại Cà dại với Cà gai leo Đặc điểm Cà gai leo Cà dại Cà tàu Cà độc dược nhận biết Thân cây nhỏ, leo, Toàn thân cây có Thân thảo cao gốc hóa gỗ, nhẵn, Cà dại cao hơn màu xanh lục nhạt, tầm 2 m, phần phân cành nhiều, cà gai leo, thân gần giống các loại gốc hóa gỗ, Thân cành non tỏa rộng, cà dại mọc cà cho ăn quả. cành non có phủ lông hình sao và đứng, thường Toàn thân có gai màu xanh lục rất nhiều gai cong cao từ 2-3 m nhọn, sắc. hoặc tím màu vàng Lá mọc so le, phiến Lá Cà tàu có màu lá có thùy nông, xanh lục nhạt, không đều, mặt trên Lá cây Cà dại to phiến lá to rộng, sẫm, mặt dưới nhạt Lá mọc so le, Lá hơn lá Cà gai cuống và gân lá cả phủ đầy lông tơ màu hình trứng.
hai phía trên dưới trắng; gân chính, đều có nhiều gai cuống lá cũng có nhọn sắc gai. Cụm hoa tán ngoài lách lá mọc thành chùm 3-5 cái, cánh Hoa màu tím mọc Hoa mọc thành hoa màu trắng Hoa to, có hình thành xim 2 - 5 hoa cụm, số lượng Hoa hoặc xanh lục nhạt giống hoa rau ở kẽ lá, ít khi có 7 - nhiều và to hơn 5 cánh rời hình sao muống 9 hoa Cà gai leo rộng 2cm. Tiểu nhị vàng, bao phấn dài 8-9 cm. Cà dại có quả Quả mọng, hình cầu Quả không có lông màu vàng, nhẵn, có cuống dài, tròn, có bớt rằn đường kính quả Quả tròn, có gai Quả màu vàng, khi chín xanh, khi chín màu cà dại 10-15 nhọn.
màu đỏ, đường kính vàng tươi đường mm lớn hơn cà 5–7 mm kính 2,5 - 3 cm. Thành phần hóa học có trong cây cà gai leo Toàn bộ thân cây Cà gai leo, nhất là rễ có chứa ancaloid. Trong rễ còn có chứa tinh bột, saponozit, flavonozit solasodin, solasodinon, glycoalcaloid,… Rễ và lá cà gai leo chứa cholesterol, β – sitosterol, lanosterol, dihydrolanosterol; alcaloid mới là solasodenon; hai aglycon là solasodin và neochlorogenin. Ngoài ra, rễ còn chứa 3β – hydroxyl – 5α – pregnan – 16 – on.
Khi thủy phân dịch chiết rễ, phần đường thu được gồm D-glucose, D-galactose, L-rhamnose [12], [13]. download by : skknchat@gmail.com 6 Cà gai leo là dược liệu duy nhất được chứng minh có tác dụng ngăn chặn xơ gan rõ rệt thông qua việc ức chế sự tạo thành các sợi collagen, là dược liệu duy nhất được kiểm chứng lâm sàng trên bệnh nhân viêm gan B mạn tính thể hoạt động [9], [17], [20], [24]. Tác dụng của Cà gai leo Cà gai leo có vị hơi the, tính ấm có tác dụng tán phong thấp, tiêu độc, tiêu đờm, trừ ho, giảm đau, cầm máu. Hoạt chất Glycoalcaloid trong Cà gai leo có tác dụng tác dụng ức chế sự sao chép và làm âm tính virus viêm gan B [18], [19], [20].
Cà gai leo là một cây thuốc quý, rễ được dân gian dùng làm thuốc chữa thấp khớp, ho, dị ứng, đau nhức xương, đau răng, trị rắn cắn, đau lưng, cảm cúm…Thấp khớp là một bệnh khá phổ biến do nhiều tác nhân gây ra. Trong y học cổ truyền, có nhiều bài thuốc chữa thấp khớp kết hợp nhiều loại dược liệu trong đó có cà gai leo. Cà gai leo có tác dụng trừ phong thấp, tiêu độc, trừ ho, cầm máu, giảm đau rất tốt. Phạm Kim Mãn và cộng sự (1999) đã nghiên cứu tác dụng chống ung thư của Cà gai leo và kết luận rằng chế phẩm dịch chiết từ cây Cà gai leo nồng độ 5 mg/100 ml có tác dụng hủy diệt tế bào ung thư 180 Sarcoma với tỷ lệ tế bào chết là 52,8% [14].
Tình hình nghiên cứu về cây Cà gai leo ở Việt Nam 1. Nghiên cứu về thành phần các hợp chất và tác dụng của Cà gai leo Năm 2014, Nguyễn Hoàng Lộc và cộng sự đã nghiên cứu sự ảnh hưởng của chiết xuất nấm men và jasmonat metyl lên việc tăng cường sinh tổng hợp solasodine trong nuôi cấy tế bào của Cà gai leo. Kết quả nghiên cứu cho thấy rõ các tác động của chiết xuẩt metylo jasmonate (MeJA) và chiết xuất từ nấm men (YE) đối với sự phát triển và sản xuất solasodine của tế bào Cà gai leo ở nồng độ khác nhau của MeJA (50-250 pM) và YE (1-4 g/L) có những ảnh hưởng khác nhau. Sự gia tăng hàm lượng solasodine gây ra bởi sự tạo ra 3 g/L YE và 50 pM của MeJA vào đầu nuôi cấy tế bào lần lượt tương ứng là 1,9 và 1,3 lần so với tế bào không kích thích.
Kết quả này cho thấy YE có hiệu quả hơn trong việc tăng cường sản xuất solasodine so với MeJA [26]. Năm 2013, Quang- Vinh Nguyen và Jong-Bang Eun đã có công trình nghiên cứu về hoạt tính kháng khuẩn của một số chiết xuất cây thảo dược của Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy các download by : skknchat@gmail.com 7 chiết xuất hiệu quả nhất chống lại Saccharomyces cerevisiae là các chiết xuất methanol của P. Trong “Nghiên cứu tác dụng của Cà gai leo trên colagenase” của Nguyễn Thị Bích Thu và các cộng sự cho các kết quả dịch chiết toàn phần glycoalcaloid, các phân đoạn n-hexan, cloroform, acetat ethy, butanol và nước của Cà gai leo đều có khả năng ức chế colagenase.
Glycolacoid là hoạt chất chống viêm chính có trong cây Cà gai leo [8], [18]. Trong Luận án Tiến sĩ của Nguyễn Phúc Thái (1998) “Nghiên cứu lâm sàng tổn thương gan do tiếp xúc nghề nghiệp với Trinitrotoluen (TNT) và tác dụng bảo vệ gan của Cà gai leo trên thực nghiệm” cho thấy dịch chiết từ cây Cà gai leo có tác dụng trong việc bảo vệ gan dưới tác dụng độc của Trinitrotoluen như hạn chế hủy hoại tế bào gan, hạn chế việc tăng trọng lượng gan do nhiễm độc Trinitrotoluen và giảm bớt các biểu hiện tổn thương gan trên tiêu bản vi thể [17]. Năm 2002, Nguyễn Thị Bích Thu đã nghiên cứu thành phần hóa học của Cà gai leo làm thuốc chống viêm gan và xơ gan. Kết quả nghiên cứu đã cho thấy trong Cà gai leo có alcaloid, glycoalcaloid, steroid saponin, flavonoid, coumarin, acid amin, phytosterol, chất béo, carotenoid, đường khử tự do.
Từ các hợp chất này đã chiết xuất để sản xuất thuốc Haina I và Haina II. Kết quả cho thấy Cà gai leo có tính chống viêm, ức chế collagenase, giảm lượng collagen, ngăn chặn sự tiến triển của xơ gan cả về chất lượng lẫn số lượng, tác dụng chống oxi-hóa in vitro, tăng tỷ lệ tăng sinh của tế bào lympho T, bước đầu ức chế tăng sinh đối với một số dòng tế bào ung thư [20]. Đề tài cấp nhà nước KHCN 11-05: “Nghiên cứu thuốc từ Cà gai leo làm thuốc chống viêm và ức chế sự phát triển của xơ gan” của chủ nhiệm TS.