Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VỀ BỒI DƯỠNG VĂN HÓA GIAO TIẾP CHO HỌC VIÊN ĐÀO TẠO CHÍNH TRỊ VIÊN Ở TRƯỜNG SĨ QUAN CHÍNH TRỊ 1. Văn hóa giao tiếp và bồi dưỡng văn hóa giao tiếp cho học viên đào tạo Chính trị viên ở Trường SQCT 1. Văn hóa giao tiếp của học viên đào tạo chính trị viên ở Trường SQCT hiện nay Khi nghiên cứu về con người và đời sống con người, trên cơ sở những quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, chủ nghĩa duy vật biện chứng, C.Ăngghen đã luận giải sâu sắc về văn hóa, đặt nền móng cho lý luận văn hóa Mácxít. Hai ông cho rằng, con người vừa là chủ thể, vừa là sản phẩm của quá trình phát triển văn hóa.
Thông qua quá trình hoạt động thực tiễn, con người đã tạo ra thế giới văn hóa, đồng thời sáng tạo ra bản thân mình. Văn hóa đó là văn hóa của con người, được con người sáng tạo ra cho chính mình để phát triển năng lực của bản thân trong cải tạo và biến đổi tự nhiên, xã hội. Hai ông cũng đã chỉ ra rằng: Lao động là nguồn gốc của mọi của cải và mọi văn hóa. Lênin thì đặc biệt coi trọng vai trò của văn hóa đối với sự nghiệp cách mạng.
Lênin khẳng định, cách mạng văn hóa là một trong những điều kiện cơ bản để phát triển giáo dục, sự nghiệp khoa học, xóa nạn mù chữ, nâng cao trình độ học vấn của nhân dân. Lênin cũng chỉ ra vai trò của văn hóa vô sản: “nền văn hóa vô sản không phải bỗng nhiên mà có; nó không phải do những người tự cho mình là chuyên gia về văn hóa vô sản phát minh ra, tất cả cái đó hoàn toàn là ngu ngốc. Nền văn hóa vô sản phải là sự phát triển hợp quy luật của tổng số những kiến thức của chủ nghĩa tư bản, của bọn địa chủ của xã hội 10 quan lại. Tất cả những con đường lớn nhỏ đó đã và đang tiếp tục đưa tới nền văn hóa vô sản” [8, tr.
Quan niệm về văn hóa theo Lênin chính là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do loài người sáng tạo ra nhờ lao động và hoạt động thực tiễn trong quá trình lịch sử của mình. Văn hóa biểu hiện trình độ phát triển mà xã hội đã đạt được trong giai đoạn lịch sử nhất định. Trong hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa đều thống nhất rằng văn hóa được sử dụng theo hai nghĩa như sau: nghĩa rộng, xem xét văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình thực tiễn xã hội. Nghĩa hẹp thì văn hóa là toàn bộ những hình thức của đời sống tinh thần xã hội.
Với hai quan niệm trên cho ta thấy, yếu tố cốt lõi của văn hóa là hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình con người làm nên lịch sử của mình. Vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin về văn hóa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra quan điểm về văn hóa như sau: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc và phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa, văn hóa là tổng hợp mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhiều thích ứng nhu cầu đời sống xã hội và đòi hỏi sự sinh tồn” [6, tr. Như vậy, khi bàn về văn hóa có nhiều cách tiếp cận khác nhau tùy theo góc độ và phương pháp tiếp cận.
Có quan điểm xuất phát từ những biến thái xã hội mà nhìn văn hóa một cách bản chất và tổng quát. Có quan điểm nhìn một lĩnh vực hoạt động mà đi sâu vào các ngóc ngách của văn hóa. Có quan điểm lại xem xét văn hóa dưới góc độ hệ thống giá trị, chuẩn mực, mô hình 11 hành vi tổng quát… Tuy nhiên, điểm chung nhất là không ai phủ nhận văn hóa là do con người sáng tạo ra, phục vụ cho nhu cầu cuộc sống của con người; nó là toàn bộ các giá trị vật chất và tinh thần được tích lũy trong lịch sử, trong quá trình con người đấu tranh với thiên nhiên, trong các mối quan hệ xã hội, trong ứng xử để tồn tại và phát triển. Như vậy có thể hiểu về văn hóa như sau: Văn hóa là hệ thống các giá trị, chuẩn mực, các mô hình hành vi do con người sáng tạo ra, được biểu hiện thông qua ý thức, thái độ, hành vi giao tiếp, ứng xử, nhu cầu, thói quen, nếp sống của con người trong quá trình hoạt động thực tiễn.
Trong thực tế cuộc sống của mỗi con người văn hóa được thể hiện ở nhận thức xã hội của mỗi con người để bảo đảm đời sống cho chính họ. Tất cả những điều đoa được cá nhân lĩnh hội trong hoạt động xã hội * Văn hóa giao tiếp Văn hóa giao tiếp là một phạm trù mang tính xã hội mà trong đó yếu tố văn hóa chỉ được đề cập đến trong phạm vi giao tiếp của học viên đào tạo CTV. Văn hóa giao tiếp là những hiểu biết về phong tục tập quán một người có hành vi giao tiếp ứng xử đúng đắn khi giao tiếp phải tuân theo những giá trị chuẩn mực nhất định. Văn hóa giao tiếp là một bộ phận trong tổng thể văn hóa nhằm chỉ quan hệ giao tiếp có văn hóa của mỗi con người trong xã hội giao tiếp lịch sự, thái độ thân thiện cởi mở, chân thành, do vậy trong một cộng đồng nhất định văn hóa giao tiếp giúp hình thành các nhóm giao tiếp làm nên các nhóm giá trị văn hóa của cộng đồng và xã hội.
Tóm lại từ những phân tích trên, chúng ta có thể đưa ra nhận định: Văn hóa giao tiếp nói chung là một thành tố đặc trưng của văn hóa được tạo nên bởi các quan hệ xã hội như: Truyền thống, đạo đức, luật pháp, tôn giáo, phong tục, tâm lý cộng đồng, dẫn đến tình cảm, lý trí, ý thức hệ và hành 12 vi của chủ thể nhằm hướng tới mục đích: Chân - thiện - mỹ để góp phần xây dựng môi trường văn hóa sư phạm. * Văn hóa giao tiếp của học viên đào tạo CTV ở Trường Sĩ quan Chính trị. Văn hóa giao tiếp của học viên là sự chia sẻ ý nghĩ, tình cảm thông tin với một hoặc nhiều người. Trong giao tiếp, chúng ta thường sử dụng lời nói để biểu đạt ý nghĩ của mình và để trao đổi thông tin với người khác.
Theo hướng tiếp cận này thì giao tiếp là: quá trình tác động tâm lý giữa người với người, thông qua hệ thống ngôn ngữ hoặc phi ngôn ngữ nhằm đạt mục đích trao đổi thông tin cảm xúc, lĩnh hội tri thức, tác động qua lại lẫn nhau, để thiết lập nên những mối quan hệ và phối hợp với nhau trong hoạt động thực tiễn hàng ngày chúng ta có thể nhận thấy rằng điều đó thể hiện rất rõ trong việc thực hiện các nhiệm vụ, thể hiện được sự tương trợ giúp đỡ nhau để hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao. Như vậy, với ba khái niệm: văn hóa, văn hóa giao tiếp, văn hóa giao tiếp của học viên đào tạo CTV mà chúng ta tập trung khai thác nhằm tiếp cận đến khái niệm văn hóa giao tiếp trong môi trường quân đội. Xây dựng văn hoá giao tiếp trong Quân đội là một quá trình làm cho cán bộ, chiến sĩ trong Quân đội không ngừng phát triển toàn diện những phẩm chất, năng lực của mình theo những hệ chuẩn giá trị văn hoá của môi trường trong quân đội. Từ đó góp phần phát triển, hoàn thiện nhân cách của họ, xây dựng đơn vị vững mạnh toàn diện, xây dựng Quân đội cách mạng, chính quy, tinh nhuệ từng bước hiện đại.
Xây dựng văn hoá giao tiếp trong Quân đội, vừa là quá trình chuyển hoá đưa vào những chuẩn văn hoá ứng xử mới như: cách xưng hô; chào hỏi đi đứng, ăn mặc theo quy định thống nhất, vừa là quá trình khơi dậy, phát huy văn hoá giao tiếp đã được hình thành, phát triển trước khi họ bước vào môi trường quân ngũ như: lòng hiếu thảo, tình bạn, tình yêu quê hương đất nước, 13 gắn bó với đơn vị…Quá trình đó tạo thói quen, trạng thái tự nhiên trong suy nghĩ và hành vi của họ. Để làm tốt vấn đề này đòi hỏi cán bộ , chiến sĩ trong Quân đội phải tự giáo dục và rèn luyện tích cực để đào thải những thói quen không phù hợp với môi trường quân sự, hình thành phát triển những thói quen ứng xử đáp ứng nội dung, yêu cầu của môi trường văn hoá quân sự. Những vấn đề cơ bản về bồi dưỡng văn hóa giao tiếp cho học viên đào tạo Chính trị viên ở Trường Sĩ quan Chính trị * Quan niệm về bồi dưỡng văn hóa giao tiếp cho học viên đào tạo CTV ở Trường Sĩ quan Chính trị. Bồi dưỡng VHGT cho học viên đào tạo CTV là yêu cầu khách quan trong quá trình đào tạo ở Trường SQCT.
Là hoạt động tự giác, tích cực, chủ động, sáng tạo của các chủ thể hoạt động, nhằm nâng cao nhận thức, bồi dưỡng kỹ năng, phương pháp giao tiếp ứng xử cho học viên, đòi hỏi mỗi học viên phải tích cực tự giác tu dưỡng và rèn luyện bản thân để đáp ứng được mục tiêu yêu cầu đào tạo của Nhà trường. Bồi dưỡng VHGT cho học viên đòi hỏi trước tiên là mỗi học viên phải tự mình rèn luyện thông qua việc chấp hành các quy định của đơn vị, Nhà trường để rèn luyện cho mình có phương pháp tác phong công tác tốt để đáp ứng được yêu cầu khi ra trường. * Mục đích bồi dưỡng. Giúp cho học viên củng cố, mở rộng tri thức, phát triển VHGT thực hiện nếp sống mẫu mực chính quy và khoa học của văn hoá quân sự, đáp ứng mục tiêu đào tạo của Nhà trường tạo điều kiện để người học viên hoàn thành tốt trên cương vị, chức trách sau khi ra trường.
*Chủ thể bồi dưỡng. Chủ thể lãnh đạo, chỉ đạo hoạt động bồi dưỡng là hệ thống cấp uỷ, tổ chức đảng các cấp trong Trường SQCT, xác định chủ trương, phương hướng, nhiệm vụ và định hướng các giải pháp cho hoạt động bồi dưỡng. Đồng thời là 14 hạt nhân lãnh đạo, giáo dục làm chuyển biến nhận thức, trách nhiệm của các chủ thể bồi dưỡng, đối tượng bồi dưỡng và các lực lượng tham gia bồi dưỡng.