phần Mở đầu, phần Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của dạy học về nghĩa của từ cho học sinh lớp 6 theo quan điểm giao tiếp Trong chương này, chúng tôi trình bày những cơ sở lý luận và thực tiễn của dạy học về nghĩa của từ cho học sinh lớp 6 theo quan điểm giao tiếp. Cụ thể là: Nghĩa của từ trong hệ thống ngôn ngữ và trong hoạt động giao tiếp. Dạy học tiếng Việt và dạy học nghĩa của từ theo quan điểm giao tiếp.
Tìm hiểu thực trạng dạy học về nghĩa của từ cho học sinh lớp 6 theo quan điểm giao tiếp ở các trường THCS hiện nay. Những cơ sở lý luận và thực tiễn này sẽ giúp cho chúng tôi đề xuất và triển khai những giải pháp dạy học các bài về nghĩa của từ cho học sinh lớp 6 theo quan điểm giao tiếp. Tổ chức dạy học về nghĩa của từ cho học sinh lớp 6 theo quan điểm giao tiếp Với chương này chúng tôi tập trung trình bày mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức dạy học về nghĩa của từ cho học sinh lớp 6 theo quan điểm giao tiếp và việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập về nghĩa của từ cho Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.vn 8 học sinh. Từ đó góp phần nâng cao năng lực sử dụng từ ngữ của học sinh trong học văn, hành văn và trong hoạt động giao tiếp.
Thực nghiệm sƣ phạm Chương này nêu rõ mục đích của thực nghiệm, đối tượng, địa bàn thực nghiệm và phương pháp, nội dung thực nghiệm, miêu tả toàn bộ quá trình thực nghiệm. Kết quả thực nghiệm sẽ chứng minh cho tính khả thi của đề tài. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.vn 9 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA DẠY HỌC VỀ NGHĨA CỦA TỪ CHO HỌC SINH LỚP 6 THEO QUAN ĐIỂM GIAO TIẾP 1. NGHĨA CỦA TỪ TRONG HỆ THỐNG NGÔN NGỮ VÀ TRONG HOẠT ĐỘNG GIAO TIẾP 1.
Nghĩa của từ trong hệ thống ngôn ngữ Nghĩa của từ là một trong những khái niệm quan trọng nhất của ngôn ngữ học. Nghĩa của từ là một vấn đề phức tạp, không thể nhận diện và hiểu nó một cách dễ dàng. Vì thế đã có nhiều cách giải thích khác nhau về khái niệm nghĩa của từ. “Nghĩa của từ chẳng qua là một sự liên tưởng” (A.
Leont‟ev) “Nghĩa của từ về phương diện tâm lí mà chúng ta cần (.) là thuộc tính thiên hướng của kí hiệu mà với thuộc tính thiên hướng đó các quá trình tâm lí diễn ra ở người nghe là phản ứng được thay đổi phụ thuộc vào các hoàn cảnh đi kèm, còn kích thích là sự tri giác kí hiệu bằng thính giác. Stevenson); “Nghĩa của từ là cái xuất hiện (hay được gợi lên) trong trí óc mọi người khi nghe thấy (hoặc đọc) từ ấy.120]; “Nghĩa của từ là toàn bộ nội dung tinh thần mà một từ (hay một ngữ cố định) gợi ra khi chúng ta tiếp xúc với từ đó [10, tr.93]; Nghĩa của từ là nội dung (sự vật, tính chất, hoạt động, quan hệ, .) mà từ biểu thị [32, tr. Từ nào cũng có nghĩa. Nếu chỉ có hình thức âm thanh mà không có nghĩa thì đó không phải là từ.
Nghĩa và hình thức âm thanh là hai mặt không thể thiếu của từ. Nghĩa của từ là sự kết hợp chặt chẽ giữa nghĩa từ vựng và nghĩa ngữ pháp. Nghĩa từ vựng là ý nghĩa cụ thể riêng cho từng từ, chỉ ra nội dung cụ thể của một từ này với từ khác. Ý nghĩa ngữ pháp là ý nghĩa chung cho từng loại từ, có hình thức biểu thị nhất định, nó ứng với chức năng ngữ pháp của từ.
Theo nhà nghiên cứu Đỗ Hữu Châu, ý nghĩa từ vựng và ý nghĩa ngữ pháp được phân biệt bởi hai tiêu chí: Tính đồng loạt và tính bắt buộc của Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.vn 10 ngoại biểu. Ý nghĩa ngữ pháp có tính đồng loạt chung cho từng từ cùng loại; ý nghĩa từ vựng có tính đồng loạt riêng cho từng từ. Hai loại nghĩa từ vựng và nghĩa ngữ pháp gắn bó thành một chỉnh thể. Ý nghĩa ngữ pháp có chức năng tổ chức câu, nhờ chúng mà các từ liên kết lại thành thông điệp.
Ý nghĩa từ vựng có chức năng đưa chính hiểu biết về sự vật, hiện tượng thành các đơn vị ngữ nghĩa để tạo ra nội dung miêu tả cụ thể của câu. Ý nghĩa từ vựng của từ bao gồm các thành phần ý nghĩa cơ bản sau: 1. Nghĩa biểu vật Nghĩa biểu vật là nghĩa ứng với sự vật, hiện tượng, trạng thái, tính chất mà từ gọi tên, biểu thị. Chẳng hạn, nghĩa biểu vật của từ “thóc” là tất cả những hạt thóc mà chúng ta thấy, của từ “bàn” là tất cả những cái bàn có trong thực tế.
Nghĩa biểu vật của từ “đi” là tất cả vận động rời chỗ của người, động vật. Nghĩa biểu vật của từ “đỏ” là tất cả các màu sắc của máu, của hoa, của lá cờ.mà chúng ta nhìn thấy. Nghĩa biểu vật quy định phạm vi sự vật mà từ dùng để biểu hiện. Có những từ chỉ có nghĩa biểu vật hẹp, chỉ ứng với một sự vật, hiện tượng duy nhất trong thực tế.
Chẳng hạn, nghĩa biểu vật của từ “sủa” là các loài chó. Nghĩa biểu vật của các từ “tư duy”, “nghĩ”, “kết luận”, “chán nản”, “bi quan” là hoạt động, trạng thái tâm lí của con người. Nhưng có những từ lại có tính khái quát lớn bao hàm một phạm vi sự vật to lớn. Ví dụ, nghĩa biểu vật của từ “chỗ” là chỉ mọi nơi, mọi chốn; nghĩa biểu vật của từ “cánh” là tất cả những cái cánh, từ cánh của chim, của chuồn chuồn, của bướm cho đến cánh của quạt, của máy bay.
Có những từ có nhiều nghĩa biểu vật, tức là từ đó ứng với nhiều loại sự vật, hiện tượng, trạng thái, tính chất. Ví dụ, từ “đầu” của tiếng Việt trước hết có nghĩa biểu vật: chỉ bộ phận của cơ thể người hoặc động vật (bộ phận ở trên cùng hay trước hết của cơ thể, thường chứa bộ não có chức năng điều khiển cơ thể). Từ “đầu” còn có các nghĩa biểu vật khác: chỉ bộ phận Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.vn 11 trước hết có chức năng điều khiển của vật (đầu máy, đầu tầu hoả.), chỉ bộ phận ở vị trí trước hết của vật thể (đầu nhà, đầu bàn, đầu ngón tay.), chỉ vị trí trước hết trong không gian (đầu làng, đầu sông, đầu chợ.), hoặc trong thời gian (đầu tháng, đầu mùa, đầu năm. Như vậy, một từ có thể có nhiều nghĩa biểu vật.
Nghĩa biểu vật là thành phần nghĩa giúp chúng ta hiểu từ một cách chính xác. Tuy nhiên cần tránh việc hiểu lầm, cho rằng “ý nghĩa biểu vật trùng hoàn toàn với sự vật, hiện tượng, tính chất.trong thực tế khách quan. Để hiểu từ, việc nắm được các ý nghĩa biểu vật của nó là bước đầu cần thiết. Tuy nhiên, không nên nghĩ một cách quá đơn giản về chúng: không phải cứ nắm được sự vật, hiện tượng là nắm được ý nghĩa biểu vật.
Ý nghĩa biểu vật tuy bắt nguồn từ sự vật, hiện tượng khách quan, song do chịu sự tác động qua lại của các từ khác, do chịu sự khái quát hoá và chịu tác động của những quy tắc cấu tạo từ, cho nên trở thành sự kiện ngôn ngữ chứ không còn là những sự kiện ngoài ngôn ngữ nữa. Nghĩa biểu niệm Nghĩa biểu niệm là thành phần nghĩa có quan hệ tới các khái niệm trong nhận thức của con người. Con người nhận thức về sự vật, hiện tượng và phân chia ra các thuộc tính của nó. Các thuộc tính đó tập hợp lại thành các khái niệm, mỗi khái niệm bao gồm một số thuộc tính.
Khi khái niệm được biểu hiện bằng từ thì các thuộc tính đó trở thành các nét nghĩa của từ. Vì thế, nghĩa biểu niệm của từ là một cấu trúc bao gồm nhiều nét nghĩa. Mỗi nét nghĩa như thế có mặt trong nghĩa biểu niệm của nhiều từ. Ví dụ, nét nghĩa “đồ dùng” là chung cho các từ bàn, ghế, giường, tủ., nét nghĩa “dụng cụ” là chung cho các từ búa, kìm, dao, cưa, đục, giũa.
Ngoài ra còn có các nét nghĩa riêng cho từng từ. Ví dụ, nét nghĩa “hai bàn chân không đồng thời nhấc khỏi mặt đất” chỉ gặp trong từ “đi”; nét nghĩa “không gây tác hại sinh lí đối Số hóa bởi Trung tâm Học liệu - Đại học Thái Nguyên http://www.vn 12 với cơ thể con người” chỉ gặp trong từ “lành”. Đó là các nét nghĩa riêng cho từng từ “đi” và “lành”. Tính chất “chung”, “riêng” của các nét nghĩa chỉ là tương đối.
Có tính chất chung rộng, có tính chất chung hẹp. Nghĩa là có những nét nghĩa chung cho rất nhiều từ, đồng thời cũng có những nét nghĩa chung cho một số từ ít hơn. Trong cấu trúc nghĩa biểu niệm, các nét nghĩa còn khác nhau ở tính chất khái quát và cụ thể. Nét nghĩa khái quát thường là nét nghĩa có mặt ở nhiều từ.
Hay nói cách khác, một nét nghĩa được coi là khái quát khi nó có thể được phân chia thành những nét nghĩa nhỏ hơn nằm trong nó. Tuy nhiên, tính chất khái quát, cụ thể cũng là tương đối: nét nghĩa này so với nét nghĩa bao trùm nó là một nét nghĩa cụ thể, nhưng so với những nét nghĩa hẹp hơn do nó phân hoá ra thì lại là nét nghĩa khái quát. Chẳng hạn: nét nghĩa “đồ dùng” so với nét nghĩa “vật thể nhân tạo” là một nét nghĩa cụ thể, nhưng so với nét nghĩa “đồ dùng để đặt.” lại là một nét nghĩa khái quát. Cũng như thế, nét nghĩa “dời chỗ” là một nét nghĩa cụ thể so với nét nghĩa “hoạt động”, nhưng lại là khái quát so với nét nghĩa “dời chỗ bằng chân”, “dời chỗ trong nước”, “dời chỗ trong không khí”.
Một từ cũng có thể có nhiều nghĩa biểu niệm nếu nó ứng với nhiều cấu trúc biểu niệm. Ví dụ, từ “chạy” có các nghĩa biểu niệm khác nhau như sau: - chạy: hoạt động, tự dời chỗ, bằng chân, của người hay động vật, ở trên mặt đất, với tốc độ cao (mỗi nét nghĩa được tách ra bằng dấu phẩy). - chạy: hoạt động, dời chỗ một vật khác, với tốc độ cao. - chạy: hoạt động tìm kiếm người hay vật cần thiết, một cách khẩn trương, vất vả.
- chạy: hoạt động trốn tránh điều nguy hiểm, một cách khẩn trương. Tập hợp một số nét nghĩa thành ý nghĩa biểu niệm là một tập hợp có quy tắc, giữa các nét nghĩa có những quan hệ nhất định.