CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Bài tập trong dạy học 1. Khái niệm bài tập Theo quan niệm của Nguyễn Hữu Châu, “Bài tập (Assigment) là nhiệm vụ hoặc công việc được giao cho từng nhóm hoặc cá nhân trong một chương trình học tập nhằm rèn luyện kĩ năng hoặc tăng cường kiến thức cho người học” [21]. Thuật ngữ “bài tập” xuất hiện trong sách giáo khoa, giáo trình và tài liệu tham khảo với nhiều ngữ cảnh khác nhau, ví dụ như “bài tập Toán”, “bài tập Tiếng Việt”, “bài tập Tiếng Anh”.
“Theo định nghĩa trên, bài tập được hiểu là một dạng bài học mô phỏng kiến thức và thực hiện các thao tác đã được giới thiệu, nhằm mục đích vận dụng lý thuyết và rèn luyện các kĩ năng cần thiết theo chương trình học. Bài tập thường được sử dụng trong hoạt động thực hành, trong đó việc giải quyết bài tập là một hình thức thực hành” [19]. Tuy nhiên, theo xu hướng đổi mới phương pháp dạy học, bài tập không chỉ được sử dụng để vận dụng tri thức đã học và rèn luyện kĩ năng tương ứng, mà còn có vai trò quan trọng trong việc hình thành tri thức mới và phát triển các kĩ năng khác. Trước đây, bài tập thường được hiểu là nhiệm vụ để rèn luyện kĩ năng và tăng cường kiến thức cho người học, nhưng hiện nay, quan điểm đã mở rộng hơn để khuyến khích tính tự giác, sáng tạo và phát triển nhận thức của người học.
Bài tập là các nhiệm vụ học tập mà GV giao cho HS thực hiện. Chúng thường được trình bày dưới dạng câu hỏi hoặc yêu cầu hoạt động, nhằm khuyến khích HS tái hiện và áp dụng kiến thức đã học, giải quyết các vấn đề sử dụng những kiến thức đã biết hoặc kết nối các kiến thức để tìm ra phương pháp mới. Qua việc thực hiện bài tập, HS có thể nắm vững tri thức, rèn luyện và phát triển kĩ năng của mình. Vai trò của bài tập trong dạy học “Tiếng Việt không chỉ đóng vai trò là môn học công cụ hỗ trợ cho việc học các môn khác, mà còn là môn học thực hành giúp HS áp dụng kiến thức và kĩ năng vào cuộc sống hàng ngày” [9].
Để đạt được những tri thức và năng lực mong muốn, HS cần thông qua hệ thống câu hỏi và bài tập. Qua việc làm bài tập, HS phải tự làm, không ai có thể làm hộ hoặc thay thế. Chỉ khi tham gia hoạt động học tập và hoàn thành các bài tập, HS mới có thể thấu hiểu kiến thức và phát triển các kĩ năng, áp dụng những tri thức đã học vào thực tế. “Hiện nay phần lớn các phân môn của môn Tiếng Việt có hệ thống vở bài tập giúp HS bổ sung, ôn luyện kiến thức đã học trong chương trình, tạo cơ hội cho HS được rèn luyện sâu hơn bốn kĩ năng cơ bản là đọc, viết, nói, nghe.
Đồng thời giúp các em nâng cao khả năng tư duy logic, giáo dục tình cảm, thẩm mỹ” [24]. Như vậy, bài tập có vai trò quan trọng trong quá trình dạy học, không chỉ trong môn học nói chung mà còn đặc biệt quan trọng trong dạy học Tiếng Việt. Nó có ý nghĩa đối với cả GV và HS. Bài tập đóng vai trò quan trọng trong nhiều phương pháp dạy học, đặc biệt là trong việc phát triển tư duy và khuyến khích tính tích cực của HS.
Bài tập giúp tập trung vào người học, khuyến khích tư duy độc lập và tính tích cực cho HS. Yêu cầu đối với một bài tập Trong thực tế, hiệu quả và thành công của một buổi giảng có thể phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng của hệ thống bài tập được sử dụng. Để tạo ra một hệ thống bài tập hiệu quả, tác giả đưa ra một số yêu cầu cần được đáp ứng như sau: - Phù hợp với trình độ của HS, nội dung và mục tiêu giáo dục của từng chủ đề, bài học: Bài tập cần được thiết kế sao cho phù hợp với trình độ của HS và mục tiêu giáo dục của bài học. Nội dung bài tập cần có tính thực tiễn và ứng dụng trong đời sống.
- Đảm bảo tính logic và mạch lạc: Bài tập cần được thiết kế sao cho có 13 tính logic và mạch lạc, giúp HS hiểu được nội dung bài học và rèn luyện được các kĩ năng ngôn ngữ cần thiết. - Cung cấp đủ tài liệu tham khảo: Nếu bài tập yêu cầu sử dụng tài liệu tham khảo, GV cần cung cấp đủ tài liệu để HS có thể làm bài tập một cách chính xác và đầy đủ. - Sử dụng ngôn ngữ sáng tạo đa dạng: GV cần sử dụng ngôn ngữ sáng tạo đa dạng trong bài tập để giúp HS rèn luyện kĩ năng sáng tạo và nâng cao khả năng sử dụng ngôn ngữ. - Phản hồi và đánh giá đầy đủ: Sau khi HS hoàn thành bài tập, GV cần đánh giá và cung cấp phản hồi đầy đủ để giúp HS cải thiện kĩ năng ngôn ngữ của mình.
Phản hồi cần tập trung vào những điểm mạnh và điểm yếu của HS, đưa ra những khuyết điểm cần cải thiện và cung cấp hướng dẫn để HS phát triển kĩ năng ngôn ngữ của mình. Phân loại bài tập Trong luận văn này, tác giả sử dụng cách phân loại bài tập, câu hỏi của tác giả Lê Phương Nga – Đặng Kim Nga trong giáo trình phương pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học. Theo đó tác giả xin đưa ra tiêu chí phân loại câu hỏi như sau: * Hệ thống câu hỏi nhận diện, tái hiện ngôn ngữ của văn bản. Câu hỏi tái hiện một phần hoặc toàn bộ văn bản.
- Cách tạo dựng câu hỏi: Nhóm câu hỏi này yêu cầu tính làm việc độc lập của HS chưa cao. - Tác dụng: Những câu hỏi thuộc nhóm này sẽ luyện cho HS về trí nhớ. - Ví dụ: Bức tranh nào dưới đây phù hợp để minh họa cho câu chuyện Cha sẽ luôn bên con ? 14 A B C D * Câu hỏi yêu cầu HS xác định đề tài và nhân vật của bài. - Cách tạo dựng câu hỏi: Yêu cầu HS trả lời dựa trên những từ ngữ có sẵn trong văn bản, nên câu hỏi xác định đề tài của văn bản thường có dạng hỏi trực tiếp: “Câu chuyện này nói về ai?”, “câu chuyện này nói về cái gì?”.
- Tác dụng: Loại câu hỏi này rèn cho HS kĩ năng nhận ra đề tài văn bản, giúp HS nhận diện được các nhân vật có trong mỗi bài tập đọc và hiểu được câu chuyện này muốn nói về cái gì. - Ví dụ: Kỉ niệm của tác giả trong bài đọc gắn với những ai? (Ngưỡng cửa - Tiếng Việt tập 1 bộ Cánh Diều) * Câu hỏi yêu cầu HS phát hiện ra các từ ngữ, chi tiết, hình ảnh của bài. - Cách tạo dựng câu hỏi: Lệnh của câu hỏi là gạch dưới, ghi lại hoặc những câu hỏi: Ai? Gì? Nào? Mà câu trả lời có sẵn, biểu hiện trên ngôn ngữ của văn bản. Câu hỏi có thể yêu cầu HS chỉ ra các từ mới hoặc các từ mà các em không hiểu nghĩa.
Bài tập, câu hỏi cũng có thể yêu cầu HS phát hiện ra những từ ngữ, chi tiết quan trọng, hình ảnh đẹp trong bài. - Tác dụng: Với loại câu hỏi này HS sẽ dần phát hiện ra các từ ngữ, chi tiết, hình ảnh gợi ra trong bài tập đọc. Thông qua đó, trí tưởng tượng của các em sẽ được phát huy, khả năng cảm thụ hình tượng văn học dần được hình thành và phát triển. Ngoài ra, loại câu hỏi này còn giúp được HS rèn luyện trí nhớ, nhớ lại những nội dung, chi tiết liên quan càng nhiều, càng chính xác, càng tốt.
15 - Ví dụ: Nêu cảm nhận của bạn nhỏ với những người thân thiết qua ngưỡng cửa? Nối ý cột A với cột B cho phù hợp? A B Người bà bà Người Bận bịu với công việc. Bố mẹ Luôn thân thiết, vô tư chơi đùa với bạn nhỏ. Bạn bè Ân cần, thường và lo cho cháu. * Câu hỏi yêu cầu HS phát hiện ra những câu quan trọng trong bài.
- Cách tạo dựng câu hỏi: Hình thức của loại câu hỏi này thường là hãy tìm câu văn, câu thơ cho thấy tầm quan trọng của văn bản, hoặc tìm những câu văn, câu thơ làm toát lên nội dung của bài. - Tác dụng: Loại câu hỏi này không chỉ giúp HS tái tạo ngôn ngữ trong một từ, một cụm từ mà còn tái tạo lại cả một câu văn, câu thơ đặc sắc, nhằm làm rõ nội dung của bài - Ví dụ: Em thích nhất chi tiết nào trong bài thơ? Vì sao? (Quạt cho bà ngủ– Tiếng Việt tập 1 bộ Cánh Diều) * Câu hỏi yêu cầu HS phát hiện ra đoạn văn, đoạn thơ. - Cách tạo dựng câu hỏi: Câu hỏi yêu cầu HS phát hiện ra đoạn, thường có dạng: Bài này gồm mấy đoạn? Mỗi đoạn từ đâu đến đâu? Hoặc cụ thể hơn như: - Tác dụng: Giúp HS có kĩ năng nhận biết cấu trúc, bố cục của văn bản, mối quan hệ giữa các bộ phận trong bài, nhận biết được những phương tiện liên kết thành một thể thống nhất. Không những thế, mục đích của những câu hỏi này, còn giúp HS có kĩ năng tóm tắt văn bản, rút ra được ý chính của đoạn văn, khổ thơ.
* Nhóm bài tập làm rõ nghĩa của ngôn ngữ văn bản. Đây chính là nhóm bài tập yêu cầu giải nghĩa từ, làm rõ nghĩa của từ 16 ngữ, câu, đoạn, bài, hình ảnh, chỉ tiết. Trong nhóm này có các dạng câu hỏi sau: + Bài tập yêu cầu giải nghĩa từ ngữ - Cách tạo dựng câu hỏi: Câu hỏi này có dạng. Em hiểu nghĩa của từ đó nói gì? So sánh nghĩa các từ? Đặt câu để phân biệt nghĩa các từ?.
Hoặc hãy giải thích ý nghĩa của những cách nói sau. - Tác dụng: Trước những câu hỏi như vậy, HS sẽ có cơ hội nắm được nghĩa của các từ và khuyến khích HS phải tư duy, phân tích để hiểu từng từ ngữ có ý nghĩa như thế nào. Điều này kích thích sự hứng thú và phát triển trí sáng tạo của HS. Qua đó, HS sẽ nhận thấy cái hay, cái đẹp của từ ngữ và áp dụng chúng vào cuộc sống hàng ngày, để hiểu thêm về thế giới xung quanh và biết cách sử dụng các từ ngữ một cách chính xác.
- Ví dụ: “Em hiểu “tấm bé” là gì? Đặt câu với từ đó. + Bài tập yêu cầu làm rõ nghĩa, ý nghĩa các câu, khổ thơ, đoạn, chi tiết, hình ảnh. - Cách tạo dựng câu hỏi: Đó là những câu hỏi có dạng: Em hiểu câu, khổ thơ hay đoạn văn, chi tiết, hình ảnh trên nói lên điều gì?