Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC BỒI DƯỠNG NGHIỆP VỤ CHO CÁN BỘ CÔNG ĐOÀN CƠ SỞ GIÁO DỤC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Có thể khẳng định rằng ở Việt Nam đã có rất nhiều các đề tài, luận văn, các công trình khoa học nghiên cứu về tổ chức bồi dưỡng. Các nghiên cứu khai thác, tiếp cận với nhiều khía cạnh khác nhau, đối tượng rất đa dạng phong phú như: cán bộ quản lý, công chức, viên chức, người lao động.Các nghiên cứu với nhiều nội dung đã tạo ra một môi trường thuận lợi cho công tác bồi dưỡng cả về mặt lý luận và thực tiễn. Các nghiên cứu đã đem lại những kết quả khả quan, áp dụng hiệu quả khi đưa vào thực tiễn.
Vấn đề nghiên cứu của luận văn đã có nhiều đề tài, sách, báo và tạp chí đề cập đến như: Báo khoa học và giáo trình "Lý luận về nghiệp Công đoàn" do PGS.TSKH Nguyễn Viết Vượng nghiên cứu và biên soạn. Nội dung giáo trình khái quát lý luận và thực tiễn của hoạt động Công đoàn, giáo trình đã được sử dụng đào tạo cán bộ Công đoàn trong cả nước [32]. Đề tài cấp Bộ "Công tác đào tạo sử dụng cán bộ Công đoàn sau đào tạo - thực trạng và giải pháp", chủ nhiệm đề tài TS Đinh Thị Mai, đã phân tích những cơ sở lý luận về đào tạo, công tác đòa tạo, bồi dưỡng và sử dụng cán bộ sau đào tạo của Công đoàn Việt Nam và đề xuất những giải pháp hoàn thiện công tác đòa tạo và sử dụng cán bộ sau đào tạo [18]. Báo cáo tại Hội thảo về "Đào tạo và bồi dưỡng cán bộ Công đoàn trong thời kỳ mới", ngày 18/03/2010 do Đại học Công đoàn Việt Nam tổ chức.
Nội dung báo cáo đã nêu bật tầm quan trọng của việc đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ công đoàn, góp phần quyết định thắng lợi trong việc xây dựng giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn Việt Nam vững mạnh [3].2010, Ban Tổ chức Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam đã xây dựng Đề án "Đào tạo và bồi dưỡng cán bộ Công đoàn đến năm 2020" với sự hợp tác của Hội đồng hợp tác phát triển Công đoàn Thụy Điển (LO/TCO). Đề án này có ý nghĩa quan trọng đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công đoàn trong cả nước, tuy nhiên Đề án mới dự thảo ,còn phải thực hiện nhiều công đoạn nữa mới áp dụng thực tế [2]. Tác giả Đinh Thị Thúy Hà đã nghiên cứu Luận văn: Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công đoàn cơ sở quận Hồng Bàng thành phố Hải Phòng. Luận văn đã nghiên cứu thực trạng và đưa ra giải pháp về nâng cao chất lượng đội ngũ công đoàn cơ sở quận Hồng Bàng thành phố Hải Phòng.
Luận văn đã đưa ra được giải pháp rất phù hợp với thực tiễn, đặc điểm tình hình của đội ngũ cán bộ công đoàn cơ sở quận Hồng Bàng [10]. Tác giả Trần Thị Thu Huyền với nghiên cứu: Giải pháp đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công đoàn tại Liên đoàn Lao động tỉnh Hải Dương thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Đề tài đã giải quyết được vấn đề về công tác đào tạo, bồi dưỡng cả chuyên môn nghiệp vụ và lý luận chính trị đối với đội ngũ cán bộ công đoàn chuyên trách tại Liên đoàn Lao động tỉnh Hải Dương qua đó đã góp phần nâng cao trình độ mọi mặt của cán bộ công đoàn [12]. Tác giả Nguyễn Hạnh Hường với nghiên cứu: Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công đoàn khối các cơ quan hành chính sự nghiệp tại tỉnh Quảng Ninh.
Đề tài đã nghiên cứu thực trạng và đưa ra giải pháp nâng cáo chất lượng đội ngũ cán bộ công đoàn khối các cơ quan hành chính sự nghiệp của tỉnh Quảng Ninh [11]. Tác giả Đỗ Thị Lan với nghiên cứu: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động công đoàn cơ sở khu vực ngoài nhà nước trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh. Khu vực ngoài nhà nước là khu vực có sự hoạt động công đoàn hạn chế, khó khăn hơn đối với khối hành chính, khối giáo dục, đề tài đã đưa ra giải pháp nâng cao hoạt động công đoàn cơ sở khu vực ngoài nhà nước phù họp, hiệu quả đối với địa bàn tỉnh Quảng Ninh [13]. 7 Tác giả Nguyễn Anh Tuấn với nghiên cứu: Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công đoàn đường sắt Việt Nam đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Đối với mỗi ngành nghề có đặc điểm, tính chất khác nhau, do đó đòi hỏi nội dung, hình thức, biện pháp hoạt động của Công đoàn cũng không giống nhau. Đề tài đã nghiên cứu thực trạng và đưa ra giải pháp về công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ công đoàn đường sắt Việt Nam phù hợp và hiệu quả [29]. Xét một cách tổng thể đã có nhiều nghiên cứu và báo cáo khẳng định tầm quan trọng của việ nâng cao chất lượng cán bộ công đoàn thông qua công tác đào tạo, bồi dưỡng, là một yếu tố quyết định cho sự thành công của hoạt động công đoàn trong thời kỳ mới. Nhận thức được điều đó, luận văn sẽ kế thừa những thành tựu nghiên cứu đã đạt được, đồng thời luận giải chuyên sâu đối với công tác này nhằm áp dụng trực tiếp đối với cán bộ công đoàn cơ sở giáo dục thành phố Bắc Kạn.
Một số khái niệm cơ bản 1. Bồi dưỡng Từ điển tiếng Việt định nghĩa: “Bồi dưỡng là làm cho tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất” [30]. Theo tác giả Trần Khánh Đức: “Bồi dưỡng có thể là một quá trình cập nhật kiến thức và kỹ năng còn thiếu hoặc đã lạc hậu trong một cấp học và thường được xác nhận bằng một chứng chỉ” Hiện nay thuật ngữ Bồi dưỡng được sử dụng khá phổ biến. Theo từ điển tiếng Việt [20]: bồi dưỡng đó là - 1) làm cho sức của cơ thể bằng chất bổ và - 2) tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất.
Theo Đại từ điển do giáo sư Nguyễn Như Ý chủ biên [33], bồi dưỡng - đó là làm cho -1) khỏe thêm, mạnh thêm và 2) tốt hơn, giỏi hơn. Phân tích những nét chính của khái niệm "bồi dưỡng" được các từ điển giải thích trên ta thấy đây là hai khái niệm có những nét tương đồng, được coi là 8 một quá trình ngắn bổ trợ, nhằm bồi bổ thêm và nâng cao hơn các tố chất vốn đã có sắn trong khách thể. Hiện nay các văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam sử dụng thuật ngữ "bồi dưỡng" với ý nghĩa trong nội hàm rất rõ nét, như: - Nghị định 18/2010/NĐ-CP ngày 05/3/2010 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng công chức đã đưa ra cách hiểu về bồi dưỡng: Bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc [19]. Theo cách hiểu trên thì Bồi dưỡng là quá trình truyền đạt thêm một lượng kiến thức nhất định cho một đối tượng học tập cụ thể, trong đó không nhất thiết phải làm rõ về quá trình và hệ phương pháp truyền đạt thêm, cũng không nhất thiết phải thay đổi cơ bản chất lượng năng lực và kiến thức của người học mà chỉ cần cung cấp thêm năng lực và kiến thức cho họ.
Bồi dưỡng là tăng cường thêm về kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm, để nâng cao chất lượng, nâng cao năng lực sản xuất, công tác cho người học. Thời gian tổ chức bồi dưỡng thường ngắn hơn so với đào tạo. Đối tượng tham gia học tập đã có ít nhiều về ngành nghề chuyên môn nhất định. Từ những khái niệm bồi dưỡng đã trình bày, cho ta thấy: - Chủ thể của quá trình bồi dưỡng đã được đào tạo để có một trình độ chuyên môn nhất định.
- Thực chất của quá trình bồi dưỡng là để bổ sung, cập nhật kiến thức và kỹ năng còn thiếu hoặc lạc hậu nhằm nâng cao trình độ, phát triển thêm năng lực trong một lĩnh vực hoạt động chuyên môn dưới một hình thức phù hợp. - Bồi dưỡng là quá trình tác động của chủ thể giáo dục đến đối tượng được giáo dục, làm cho đối tượng được giáo dục tăng thêm năng lực, phẩm chất và phát triển theo chiều hướng tốt hơn. Công tác bồi dưỡng được thực hiện trên nền tảng các loại trình độ đã được đào tạo cơ bản trước. Tổ chức bồi dưỡng Bồi dưỡng xét theo ý nghĩa của một hoạt động trong tổ chức, là quá trình làm thay đổi hành vi người học một cách có kế hoạch, có hệ thống thông qua các 9 sự kiện, chương trình và hướng dẫn học tập, cho phép cá nhân đạt được các trình độ kiến thức, kỹ năng và năng lực để thực hiện công việc của họ có hiệu quả.
Tổ chức bồi dưỡng chính là quá trình tổ chức thực hiện bồi dưỡng để đạt được mục tiêu của nó. Thông thường, quy trình tổ chức bồi dưỡng bao gồm các thành tố sau đây: Sơ đồ 1. Quy trình tổ chức bồi dưỡng 1. Cán bộ công đoàn cơ sở Công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động cùng với cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội chăm lo và bảo vệ quyền lợi của cán bộ, công nhân, viên chức và những người lao động khác; tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, tham gia kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế; giáo dục cán bộ, công nhân, viên chức và những người lao động khác xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (Điều 10 Hiến pháp 1992).
Công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân và của người lao động Việt Nam (gọi chung là người lao động) tự nguyện lập ra dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam; là thành viên trong hệ thống chính trị của xã hội Việt Nam; là trường học chủ nghĩa xã hội của người lao động 10 (Điều 1 Luật Công đoàn 1990). Nghiệp đoàn là tổ chức cơ sở của Công đoàn tập hợp những người lao động tự do hợp pháp cùng ngành nghề. Nghiệp đoàn do các công đoàn cấp trên là Liên đoàn lao động cấp huyện hoặc công đoàn ngành địa phương trực tiếp quyết định thành lập, giải thể và chỉ đạo hoạt động. Nghiệp đoàn tập hợp những người lao động tự do hợp pháp cùng ngành, nghề, được thành lập theo địa bàn hoặc theo đơn vị lao động có 10 đoàn viên trở lên và được công đoàn cấp trên quyết định công nhận.
Như vậy, công đoàn (hay nghiệp đoàn) là tổ chức chính trị xã hội nghề nghiệp, là một tổ chức quần chúng rộng lớn nhất của giai cấp công nhân và nhân dân lao động.