Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC CHO CÁN BỘ QUẢN LÝ TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 1. Một số công trình về bồi dưỡng năng lực cho cán bộ quản lí Năng lực là một khái niệm có nhiều thuật ngữ gần nghĩa và được định nghĩa khá đa dạng. Hơn nữa, do sự phát triển của khoa học và sự phong phú của thuật ngữ trong nghiên cứu khoa học, khái niệm năng lực cần gắn với các khía cạnh hoặc lĩnh vực cụ thể để xác định, nghiên cứu và vận dụng, trong đó có năng lực của hiệu trưởng được kết nối qua nhiều khái niệm khác nhau nhằm chỉ ra những năng lực cơ bản của người hiệu trưởng.
Những công trình nghiên cứu về bồi dưỡng năng lực khá đa dạng về đối tượng như bồi dưỡng giáo viên, học sinh, nhân viên, cán bộ quản lí trong các cơ sở giáo dục. Một số công trình nghiên cứu phổ biến như sau: Ngay từ thế kỉ 18, một số nhà nghiên cứu cũng đã đề cập đến các công trình theo xu hướng phát triển năng lực của người cán bộ quản lí chẳng hạn như tác giả Henri Faylor với công trình “Tổng quát về quản lý - hay Thuyết quản trị” [8] (Adiministration Industriell or Generale) xuất bản năm 1916 trong đó ông đã đưa ra những chức năng và quy tắc làm việc người quản lí. Ông cho rằng người quản lý cần hội tụ đủ cả phẩm chất và năng lực, kết hợp nhuần nhuyễn với các chức năng, các quy tắc và nguyên tắc quản lý thì thực hiện được mục tiêu quản lý, từ đó dẫn đến thực hiện thành công mục tiêu của tổ chức. Henri cũng chỉ ra rằng chỉ có giáo dục mới có thể hình thành nên cấu trúc tổng thể ấy một cách có hệ thống để người cán bộ quản lí vận hành hoàn hảo trong thực tiễn làm việc (dẫn theo [21]).
Một tác giả khác là Robert Owen cho rằng tìm giải pháp quản lý để tăng năng suất và hiệu quả công việc cần chú ý đến việc nâng cao trình độ năng lực Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn quản lí của người đứng đầu. Đặc biệt, công trình nghiên cứu của William (Giáo sư trường Đại học California, Mỹ), đã chú trọng đến việc xem xét những yếu tố văn hoá giữa con người với con người để khẳng định, yếu tố quan trọng của văn hoá trong quản lý và nêu ra 7 yếu tố có ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý đó là: Strategy (chiến lược), Skills (kỹ năng), Style (cách thức), System (hệ thống), Structure (cơ cấu), Shared value (các giá trị chung) và đặc biệt là Staff (đội ngũ). Sự vận hành của các yếu tố này chính là chuẩn mực để đo năng lực của người cán bộ quản lí cũng như sức mạnh của tập thể đó. Đến thế kỉ XX, những nghiên cứu về năng lực quản lí ngày càng phong phú và mở rộng ra nhiều lĩnh vực.
Peter Drucker là cây đại thụ về quản lý thời hiện đại của Mỹ là đại diện của trường phái quản lý kinh nghiệm chủ yếu của phương Tây. Trong tác phẩm: “Những thách thức của quản lý trong thế kỷ XXI ” ông đưa ra các vấn đề có liên quan đến mục tiêu và nhiệm vụ của người quản lí đồng thời quyết định những điều cần làm để đạt được mục tiêu đó và truyền đạt đến những thành viên có liên quan; tiến hành công tác tổ chức, tức là phân loại công việc, xây dựng cơ cấu tổ chức tương ứng, tuyển chọn nhân viên; khích lệ cán bộ, công nhân viên, liên kết công việc, liên kết mọi người với nhau; phân tích kết quả của đơn vị theo mục tiêu vạch ra; làm cho các thành viên đều trưởng thành. Công trình nghiên cứu và các ý tưởng về quản lý của ông được xếp là 155 tinh hoa quản lý thế giới trong thế kỷ XX. Thuật ngữ năng lực gắn với lịch sử ra đời của xu hướng năng lực bắt nguồn từ sự thay đổi bối cảnh kinh tế và chính trị vào cuối những năm 60, với khái niệm “NLQL - managerial competency” được sử dụng nhiều theo tác phẩm của McClelland (1973) và nhóm tư vấn McBer (thập kỷ 1970 - xem Horton, 2002).
Boyatzis đã xác định 19 năng lực gắn với việc thực hiện quản lý ở mức trung bình, chia thành năm nhóm: Mục tiêu, hành động quản lý, lãnh đạo, quản lý nguồn nhân lực và hướng dẫn nhân viên. Những ý tưởng này phổ biến rộng ở Anh nhờ chính phủ, ban đầu là báo cáo đánh giá Chứng nhận Nghề nghiệp (De Ville, 1986), sau đó là phát triển và thực hiện trong tiêu Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn chuẩn Nghề Quốc gia (NOS) trong quản lý (Sáng tạo, Chức năng, Quản lý, 1987, 1997). Cách tiếp cận năng lực này phát triển nhanh trở thành một trong các mô hình chủ đạo trong phát triển và đánh giá quản lý và lãnh đạo ở Anh (Miller, 2001; Rankin, 2002) (dẫn theo [21]). Trong tác phẩm: “Những thách thức của quản lý trong thế kỷ XXI ”, P.
Drucker nhấn mạnh đến vấn đề đào tạo, bồi dưỡng năng lực cho CBQL. Ông cho rằng nhà trường trong bao nhiêu thế kỷ nay đã được tổ chức dựa trên giả định: Có một cách học đúng đắn và là cách học chung cho mọi người nhưng theo ông mỗi người có cách học riêng và ít ai giống ai. Theo ông, công việc của người đứng đầu một đơn vị là rất phức tạp. Mỗi công việc mà họ thực hiện đều đòi hỏi điều kiện và tố chất khác nhau.
Do vậy, không thể yêu cầu người quản lý hiểu đầy đủ mọi vấn đề trong thực tiễn công tác. Chính vì vậy, người quản lý phải biết tự mình trau dồi năng lực cho bản thân, đồng thời các cấp quản lý phải tổ chức bồi dưỡng cho họ. Người CBQL phải biết nắm chắc thế mạnh của mình, luôn tự hoàn thiện phẩm chất, năng lực để xử lý có hiệu quả những vấn đề thực tiễn nảy sinh (dẫn theo [21]). Jean Valérien, trong tác phẩm “Quản lý hành chính và sư phạm trong các nhà trường tiểu học” (La Gestion administrative et Pédgogique des écoles) [30] do UNESCO xuất bản năm 1991, đã phân tích về vai trò, chức năng và nhiệm vụ của người Hiệu trưởng trường tiểu học; qua đó tác giả đã có những gợi ý các yêu cầu về phát triển phẩm chất và năng lực của người Hiệu trưởng tiểu học, từ đó làm nền tảng tổ chức bồi dưỡng năng lực cho Hiệu trưởng nhà trường.
Nghiên cứu vấn đề chương trình đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ CBQL giáo dục (cụ thể là Hiệu trưởng trường học) phải được phát triển và cập nhật như thế nào để đáp ứng với sự phát triển của khoa học và công nghệ trong xu thế hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa trên cơ sở so sánh các chương trình bồi dưỡng Hiệu trưởng của nhiều quốc gia [30]. Cụ thể, Đại học Nam Florida đã quy định Chuẩn chương trình đào tạo cho Hiệu trưởng và cho nhà quản lý trường học là chương trình tích hợp gồm mười một vùng kiến thức và kỹ năng theo bốn lĩnh vực lớn: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn lãnh đạo chiến lược; lãnh đạo tổ chức; lãnh đạo giáo dục; lãnh đạo chính trị và cộng đồng. Chương trình đào tạo nhà lãnh đạo trường học theo các nhóm năng lực: năng lực sư phạm, giáo dục và thiết lập; năng lực kiểm soát; năng lực lãnh đạo; năng lực tổ chức; năng lực tư vấn. Chương trình đào tạo nhà lãnh đạo, quản lý trường học theo các năng lực: năng lực lãnh đạo, năng lực xã hội, năng lực cá nhân, năng lực giáo dục, năng lực phát triển trường học, năng lực tổ chức quản lý; và chuẩn chương trình đào tạo CBQL trường học cung cấp cho những người chuẩn bị làm lãnh đạo trường học về các năng lực lãnh đạo và quản lý.L trong cuốn: "Kỹ năng của một người quản trị giỏi" [27] đã phân tích các năng lực, kỹ năng của nhà quản lý cần có.
Tác giả đã nêu rất cụ thể việc nhà quản lý cần phải làm là gì? Những yêu cầu đối với nhà quản lý ra sao? Và các kỹ năng, năng lực hiệu trưởng cần có để nâng cao chất lượng giảng dạy trong nhà trường.Kixêcôp đã có nhiều công trình nghiên cứu về kỹ năng sư phạm. Một trong các công trình đó là: "Hình thành các kỹ năng kỹ xảo sư phạm trong điều kiện của nền giáo dục đại học". Tác giả đã đưa ra các kỹ năng kỹ xảo cần có của người hiệu trưởng [dẫn theo 31]. Liên quan đến vấn đề BDNL cho giáo viên nói chung và bồi dưỡng năng lực cho hiệu trưởng nói riêng ta có thể bắt gặp ở các công trình nghiên cứu của Fumiko Shinohara (2004 “ICTs in Teachers Training, UNESCO”).
Tác giả đã nhấn mạnh đến vai trò của công nghệ thông tin trong việc đào tạo, bồi dưỡng năng lực cho CBQL nói chung và Hiệu trưởng nói riêng [29]. Tác giả nhấn mạnh vai trò của giáo viên, đặc biệt việc xuất hiện các công nghệ dạy học mới dẫn đến những đòi hỏi mới đối với đội ngũ GV trong phương pháp dạy học. Việc đào tạo, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức mới cho giáo viên và CBQL nhà trường sẽ trở nên đa dạng, phong phú; kèm theo là các chính sách giảm giờ trên lớp, dạy theo kiểu gợi mở, khêu gợi trí tò mò và năng lực khám phá của học sinh [26]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.
Công trình đã có đóng góp to lớn trong việc đưa ra 5 tiêu chuẩn chính đối với giáo viên nói chung và hiệu trưởng nhà trường nói riêng, đó là: (1) Kiến thức phong phú về nội dung chương trình và nội dung bộ môn được giao giảng dạy; (2) Kỹ năng sư phạm kể cả việc tạo được “kho kiến thức” về phương pháp dạy học, về năng lực sử dụng những phương pháp đó; (3) Có tư duy phản biện trước mỗi vấn đề và có năng lực tự phê, nét rất đặc trưng của nghề dạy học; (4) Biết cảm thông và cam kết tôn trọng phẩm giá của người khác, (5) Có năng lực quản lý, kể cả trách nhiệm quản lý trong và ngoài lớp học [25]. Có thể nói những nghiên cứu về năng lực của cán bộ quản lí và các vấn đề đặt ra để phát triển năng lực đó được nghiên cứu khá công phu, đa dạng về nhiều lĩnh vực.