CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Hệ thống hoá kiến thức trong dạy học Sinh học 1. Hệ thống hoá kiến thức * Khái niệm hệ thống: Lý thuyết hệ thống coi đối tượng nghiên cứu là một hệ toàn vẹn, bao gồm các thành tố có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau. Khái niệm hệ thống được Vonbertalanffy xác định như sau “ hệ thống là một tổng thể các phần tử có quan hệ, có tương tác với nhau”.
Hay định nghĩa của Miller: “ hệ thống là tập hợp các yếu tố cùng với những mối quan hệ tương tác giữa chúng với nhau”. Khái niệm hệ thống đã được triết học đề cập tới: Đó là một tổ hợp các yếu tố cấu trúc liên quan chặt chẽ với nhau trong một chỉnh thể, trong đó mối quan hệ qua lại biện chứng giữa các yếu tố cấu trúc đã làm cho đối tượng trở nên một chỉnh thể trọn vẹn và đến lượt mình, khi nằm trong mối quan hệ qua lại đó, chúng tạo nên những thuộc tính mới, các thuộc tính mới này không có ở những yếu tố cấu trúc khi chúng đứng riêng lẻ. Mối tác động qua lại biện chứng giữa các yếu tố cấu trúc đã sản sinh ra động lực cho sự tự thân vận động và phát triển của hệ thống.Ăngghen đã nhấn mạn rằng sự tác động qua lại là nguyên nhân bên trong quy định sự phát triển vì vậy sự phát triển của tư duy lý thuyết khoa học không chỉ là sự gia công sắp xếp lại các tài liệu đã được tích luỹ trong các nghiên cứu khác nhau mà chính là việc xác định các mối quan hệ biện chứng giữa các tri thức đó với nhau trong một chỉnh thể trọn vẹn. 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Trong bút kí triết học và nhiều tác phẩm của mình V.Lênin đã chú ý nhiều đến khái niệm chỉnh thể, cái chung tương ứng với khái niệm hệ thống, còn cái riêng tương ứng với bộ phận, cũng như mối liên hệ biện chứng giữa các bộ phận với nhau và với hệ thống, giữu hệ thống này với hệ thống khác.
Nghiên cứu các lĩnh vực khác nhau về Sinh học đã có những ý kiến của các nhà khoa học đề cập đến bản chất vai trò nhận thức của hệ thống và hệ thống hoá kiến thức.Pavlop đã thành công trong nghiên cứu sinh lý người khi và chỉ khi đã xem con người như một hệ toàn vẹn tự điều chỉnh. Tóm lại hệ thống là tập hợp nhiều yếu tố, đơn vị cùng loại hoặc cùng chức năng, có quan hệ hoặc liên hệ chặt chẽ với nhau làm thành một thể thống nhất. * Khái niệm hệ thống hoá kiến thức: Hệ thống hoá là việc mà người ta làm cho các sự vật, hiện tượng, đối tượng… trở nên có hệ thống. Trong dạy học khi học các nội dung nào đó người ta xâu chuỗi các nội dung lại thành một tổ hợp hệ thống lôgic goi là hệ thống hoá kiến thức.
Việc hệ thống hoá kiến thức phải dựa trên quan điểm tiếp cận cấu trúc hệ thống và có thể được trình bày bằng bảng hệ thống, sơ đồ hệ thống hay trình bày theo một lôgic nhất định. Vai trò của việc hệ thống hoá kiến thức Hệ thống hoá kiến thức là một quá trình thực hiện các thao tác lôgic để sắp xếp các kiến thức vào một hệ thống. Vì vậy trong dạy học việc hệ thống hoá kiến thức được sử dụng để giáo viên trình bày tài liệu, sách giáo khoa một cách cô đọng. Để giáo viên tổ chức 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com học sinh nghiên cứu các nguồn tài liệu và diễn đạt những tài liệu đọc được, gia công nó theo một định hướng nhất định để rút ra được những kết luận có tính khái quát, tim ra trong đó những mối quan hệ có tính quy luật giữa các sự vật và hiện tượng.
Như vậy việc hệ thống hoá kiến thức giúp giáo viên củng cố cho học sinh những điều đã học, sẵp xếp chúng thành một hệ thống chặt chẽ, giúp học sinh lý giải được ý nghĩa sâu xa của kiến thức ấy, biết cách diễn đạt ý tưởng của mình bằng ngôn ngữ của chính mình khi nghiên cứu nội dung Sinh học. Trong dạy học việc hệ thống hoá kiến thức sẽ có tác dụng rèn luyện ở học sinh những phẩm chất trí tuệ sau đây: - Rèn luyện kỹ năng đọc sách, tài liệu giáo khoa, phát triển năng lực nhận thức cho học sinh. Muốn hệ thống hoá kiến thức được học sinh phải đọc kỹ nội dung sách giáo khoa để chắt lọc, lựa chọn kiến thức cơ bản, cốt lõi nhất. Đồng thời phải thiết lập mối quan hệ giữa các phần kiến thức.
Quá trình này đòi hỏi học sinh phải vận dụng thành thạo cá thao tác tư duy cơ bản như: so sánh, phân tích, tổng hợp, khái quát hoá, trừu tượng hoá…Đấy là quá trình gia công chuyển hoá tri thức sách vở thành tri thức bản thân. Như vậy việc hệ thống hoá kiến thức giúp học sinh sử dụng được các nguồn tài liệu đa dạng, phát triển tư duy lôgic, tư duy hình tượng, tư duy biện chứng trên cơ sở đó phát triển năng lực nhận thức và năng lực hành động chủ động và sáng tạo. - Qua việc hệ thống hoá kiến thức học sinh biết cách đối chiếu so sánh sự vật hiện tượng để tìm ra quy luật nghĩa là rèn luyện học sinh khả năng khái quát hoá rút ra kết luận. - Bằng phương pháp hệ thống hoá kiến thức, tri thức mà học sinh lĩnh hội được không phải ở dạng cung cấp sẵn mà trên cơ sở hoạt động với đối tượng, 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trên các mối liên hệ bản chất giữa các sự vật hiện tượng vì thế tri thức sâu, chính xác phản ánh đúng bản chất, kỹ năng kỹ xảo chắc chắn.
- Việc hệ thống hoá kiến thức còn giúp học sinh vừa chiếm lĩnh kiến thức vừa nắm vững phương pháp tái tạo cho bản thân kiến thức đó, phát triển năng lực tự học và thói quen tự học, sáng tạo, giúp học sinh có thể tự học suốt đời. Đây là một trong những yêu cầu căn bản của lý luận dạy học nói chung và lý luận dạy học Sinh học nói riêng. Yêu cầu của sơ đồ, bảng hệ thống hoá kiến thức Việc hệ thống hoá kiến thức cho học sinh giáo viên phải luôn bám sát và thực hiện cho được mục tiêu của bài học đề ra. Một sơ đồ, bảng hệ thống hoá kiến thức khi xây dựng xong phải đạt các yêu cầu cơ bản sau: - Sơ đồ, bảng hệ thống hoá phải đảm bảo tính khoa học, chính xác, lôgic và mang tính sư phạm cao.
- Sơ đồ, bảng hệ thống hoá kiến thức cần phải đạt được mục đích dạy học đã đề ra. - Sơ đồ, bảng hệ thống hoá kiến thức phải đảm bảo sự liên hệ chặt chẽ giữa các thứ bậc và trong từng thứ bậc. - Sơ đồ, bảng hệ thống hoá kiến thức phải bao quát được nội dung cơ bản về kiến thức cần hệ thống trong sách giáo khoa. - Sơ đồ, bảng hệ thống hoá kiến thức phải dễ hiểu, phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh.
Những nguyên tắc của việc rèn luyện cho học sinh kỹ năng hệ thống hoá kiến thức 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Quán triệt mục tiêu dạy học khi hệ thống hoá kiến thức: Mục tiêu của mỗi bài học không phải chỉ là hình thành kiến thức, kỹ năng mà quan trọng hơn cả là việc phát triển các thao tác tư duy và vận dụng được kiến thức. Do đó trong quá trình rèn luyện kỹ năng hệ thống hoá kiến thức, giáo viên phải luôn bám sát mục tiêu bài học và hình thành các thao tác phù hợp với nội dung bài học. Phát huy tính tích cực của học sinh: Khi hệ thống hoá kiến thức điều quan trọng là đưa học sinh tham gia vào việc lập bảng, sơ đồ hệ thống hoá kiến thức một cách tích cực nhất.
Bằng những chỉ dẫn hay hệ thống câu hỏi dựa vào đó học sinh sẽ xác định được nội dung và xác định được mối quan hệ giữa các nội dung qua đó lĩnh hội được kiến thức. Giúp học sinh nâng dần khả năng hệ thống hoá kiến thức: Trong quá trình rèn luyện kỹ nănng hệ thống hoá kiến thức cho học sinh tuỳ thuộc vào trình độ năng lực cụ thể của học sinh để giáo viên nâng dần yêu cầu các mức độ hệ thống hoá từ dễ đến khó, không nóng vội sẽ dễ làm cho học sinh chán nản khi không thực hiện được các yêu cầu mà giáo viên đặt ra. Các mức độ hệ thống hoá được sắp xếp từ dễ đến khó như sau: - Nghiên cứu nội dung qua bảng, sơ đồ hệ thống hoá do giáo viên trình bày. - Học sinh nghiên cứu bảng, sơ đồ cho trước để rút ra nhận xét.
- Điền bảng, sơ đồ thiếu khuyết, sơ đồ câm cho trước nhờ nghiên cứu tài liệu, sách giáo khoa theo hướng dẫn của giáo viên. - Tự xây dựng bảng, sơ đồ hệ thống hoá kiến thức qua hướng dẫn của giáo viên. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Đảm bảo tính lôgic Về mặt lôgic khách quan, tính quy luật của các hiện tượng di truyền tồn tại hoàn toàn khách quan, còn mỗi nhóm hay mỗi quy luật di truyền được khám phá ra ở những thời điểm nhất định trong lịch sử khoa học.
Lịch sử khám phá này không phải bao giờ cũng đảm bảo tính lôgic khoa học. Chẳng hạn có quy luật phức tạp có thể được phát hiện trước quy luật đơn giản. Trong tiến trình tổ chức bài học, các bước xây dựng hệ thống phải được sắp xếp thành một chỉnh thể theo một thứ tự nhất định, tính đến sự kế thừa nội dung từ những bài đã học đang học và sẽ học. Từ hiện tượng đến bản chất, từ bản chất cấp thấp đến bản chất cấp cao.
Tóm lại, khi hệ thống hoá kiến thức phải đảm bảo được các nguyên tắc trên. Tất nhiên, không phải lúc nào cũng đầy đủ các nguyên tắc đó tuỳ thuộc vào mục đích sư phạm của việc hệ thống hoá. Ví dụ như việc sử dụng hệ thống hoá trong khâu nghiên cứu tài liệu mới, trong khâu luyện tập hay tổng kết, trong khâu kiểm tra đánh giá… Tuy nhiên các nguyên tắc đó phải cố gắng thể hiện trong mỗi bảng, sơ đồ hệ thống hoá. Những biện pháp hệ thống hoá kiến thức Để hệ thống hoá kiến thức trong sách giáo khoa ta có thể thể hiện bằng bảng hệ thống hay sơ đồ: a.
Xây dựng bảng hệ thống hoá kiến thức Bảng hệ thống là một hình thức diễn đạt nội dung theo một hệ thống nào đó.