phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của Luận văn gồm 3 chương 7 tiết. 10 Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BỒI DƢỠNG ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC CẤP XÃ 1. Đội ngũ công chức cấp xã - quan niệm, đặc điểm và vai trò 1. Quan niệm về cấp xã và đội ngũ công chức cấp xã 1.
Cấp xã Theo Hiến pháp năm 2013, nước ta có 4 cấp hành chính đó là: Cấp Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã [44]. Trong đó, cấp tỉnh có 2 loại hình đơn vị hành chính là: Tỉnh và thành phố thuộc trung ương; cấp huyện có 4 loại hình đơn vị hành chính là: Huyện, thành phố thuộc tỉnh, quận và thị xã; cấp xã có 3 loại hình đơn vị hành chính là: Xã, phường, thị trấn. Tương ứng với 4 cấp chính quyền: Chính quyền Trung ương, chính quyền cấp tỉnh, chính quyền cấp huyện và chính quyền cấp xã. Theo phân cấp hành chính thì cấp xã là cấp cuối cùng trong hệ thống chính quyền 4 cấp (Trung ương, tỉnh, huyện, xã).
Cấp xã được xác định là cấp cơ sở vì vậy khi chúng ta nói đến cấp cơ sở là nói đến cấp xã. Cấp xã là cấp hành chính thấp nhất trong hệ thống tổ chức hành chính của Nhà nước ta. Cấp xã là cấp hành chính cuối cùng gần dân nhất, trực tiếp quản lý các mặt của đời sống xã hội. Vì vậy, muốn thực hiện quản lý tốt các mặt trên cần phải có những con người có đầy đủ phẩm chất, năng lực, trình độ muốn đạt được những tiêu chuẩn trên thì phải thông qua công tác đào tạo, bồi dưỡng.
Công chức và công chức cấp xã - Khái niệm công chức Công chức là một khái niệm chung được sử dụng phổ biến nhiều quốc gia trên thế giới để chỉ những công dân được tuyển dụng vào làm việc thường xuyên trong cơ quan nhà nước, do tính chất đặc thù của mỗi quốc gia, khái 11 niệm công chức của các nước cũng không hoàn toàn đồng nhất. Có nước chỉ giới hạn công chức trong phạm vi những người hoạt động quản lý nhà nước. Một số nước khác có quan niệm rộng hơn, công chức không chỉ bao gồm những người thực hiện trực tiếp các hoạt động quản lý nhà nước mà còn bao gồm cả những người làm việc trong các cơ quan có tính chất công cộng. Vì vậy, không có một thuật ngữ chung về công chức cho tất cả các quốc gia.
Ở Việt Nam, khái niệm công chức được hình thành, gắn với sự phát triển của nền hành chính nhà nước, thay đổi theo từng giai đoạn lịch sử khác nhau. Theo Điều 1, Sắc lệnh số 76/SL ngày 20/5/1950 của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, công chức là: “Những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, ở trong hay ngoài nước đều là công chức theo quy chế này, trừ những trường hợp riêng biệt do Chính phủ quy định”.6] Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: “Công chức chỉ những người được các cơ quan nhà nước tuyển dụng, bổ nhiệm vào làm việc thường xuyên trong các cơ quan chuyên môn công quyền và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.” Nghị định số 169/HĐBT ngày 25/5/1992 về công chức nhà nước ghi khái niệm công chức: “Công dân Việt Nam được tuyển dụng và bổ nhiệm giữ một công vụ thường xuyên trong công sở của Nhà nước ở trung ương hay địa phương, ở trong nước hay ngoài nước đã được xếp vào một ngạch, hưởng lương do ngân sách nhà nước cấp gọi là công chức”. Điều 1 Pháp lệnh cán bộ, công chức năm 1998 quy định: “cán bộ, công chức quy định tại Pháp lệnh này là công dân Việt Nam, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước…” Khái niệm công chức được sử dụng phổ biến gần đây đó là khái niệm công chức được ghi nhận trong Luật Cán bộ, công chức năm 2008 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Điều 4, Luật Cán bộ, công chức quy định: 12 Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật”.1] Như vậy, công chức ở Việt Nam không chỉ là những người làm việc trong các cơ quan hành chính nhà nước mà còn bao gồm cả những người làm việc ở các phòng, ban của Đảng Cộng sản Việt Nam, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội; những người lãnh đạo, quản lý đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Điều 2, Nghị định số 06/NĐ-CP ngày 25 tháng 01 năm 2010 của Chính phủ quy định: Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh, trong biên chế, hưởng lương từ ngân sách nhà nước hoặc được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật, làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị quy định tại Nghị định này. Tóm lại, khái niệm công chức của nước ta trải qua nhiều giai đoạn phát triển, mỗi giai đoạn đều phải phù hợp và bị quy định bởi những đòi hỏi khách quan của các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội. Đồng thời cũng bị chi phối 13 bởi nhận thức chủ quan của cơ quan lãnh đạo, nhà lập pháp trong từng thời kỳ. Song dù sao đều hướng đến sự hoàn thiện trong nhận thức để phù hợp với hoàn cảnh thực tế.
- Khái niệm công chức cấp xã Ở Việt Nam, khái niệm công chức cấp xã mới được hình thành từ khi pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh cán bộ, công chức được ban hành ngày 29 tháng 4 năm 2003 và các Nghị định của Chính phủ, trong đó có Nghị định số 112/2011/NĐ-CP về công chức xã, phường, thị trấn quy định về chức danh, tiêu chuẩn, nghĩa vụ, quyền lợi, những việc không được làm, chế độ, chính sách và quản lý công chức xã, phường, thị trấn. Đặc biệt, Luật Cán bộ, công chức năm 2008 đã đưa ra khái niệm công chức cấp xã. Khoản 3, Điều 4 Luật Cán bộ, công chức năm 2008 quy định: “Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước” [43, tr. Đội ngũ công chức cấp xã - Chức danh, chức trách, nhiệm vụ * Đội ngũ công chức cấp xã Đội ngũ, theo cách hiểu phổ thông là một tập hợp gồm nhiều người được tổ chức, sắp xếp theo một mô hình hay trật tự nhất định để cùng thực hiện những hoạt động chung vì một mục tiêu nhất định (ví dụ: đội ngũ y sĩ, bác sĩ trong một bệnh viện được sắp xếp theo khoa, phòng để cùng thực hiện hoạt động khám và chữa bệnh; đội ngũ giảng viên là tập hợp các giảng viên cùng thực hiện nhiệm vụ giảng dạy, hướng dẫn nghiên cứu khoa học cho sinh viên, học viên của một cơ sở đào tạo bậc đại học, sau đại học…).
Theo cách hiểu này, đội ngũ công chức cấp xã là tập hợp các công chức cấp xã của các xã, phường, thị trấn được tuyển dụng, sắp xếp và thực thi chức năng, nhiệm vụ theo quy định của pháp luật. Theo khoản 3, Điều 61 Luật Cán 14 bộ, công chức năm 2008 và Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009, công chức cấp xã được quy định gồm 07 chức danh sau: 1. Trưởng công an 2. Chỉ huy trưởng quân sự 3.
Văn phòng – thống kê 4. Địa chính – xây dựng – đô thị và môi trường (đối với phường, thị trấn) hoặc địa chính – nông nghiệp – xây dựng và môi trường (đối với xã) 5. Tài chính – kế toán 6. Tư pháp – hộ tịch 7.
Văn hóa – xã hội * Chức trách, nhiệm vụ của đội ngũ công chức cấp xã Chức trách, nhiệm vụ của đội ngũ công chức cấp xã được quy định tại Thông tư số 13/2019/TT-BNV ngày 06/11/2019 của Bộ Nội vụ hướng dẫn một số quy định về cán bộ, công chức xã và người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố cụ thể như sau: Công chức Trưởng Công an xã: Tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân xã tổ chức thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân xã trong các lĩnh vực: an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn theo quy định của pháp luật. Trực tiếp thực hiện các nhiệm vụ theo quy định của pháp luật về công an xã và các văn bản có liên quan của cơ quan có thẩm quyền. Thực hiện các nhiệm vụ khác do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã giao. Đối với thị trấn chưa bố trí lực lượng công an chính quy thì Trưởng Công an thị trấn thực hiện nhiệm vụ như đối với Trưởng Công an xã.
Đối với xã, thị trấn bố trí Công an chính quy đảm nhiệm chức danh Công an xã thì nhiệm vụ của Công an xã chính quy thực hiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành. Thực hiện Nghị quyết số 22-NQ/TW, ngày 15 tháng 3 năm 2018 của 15 Bộ Chính trị khóa XII về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy Bộ Công an tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiêu quả theo hướng “Bộ tinh, tỉnh mạnh, huyện toàn diện, xã bám cơ sở”, Bộ Công an đã và đang triển khai Đề án điều động công an chính quy đảm nhiệm các chức danh Công an xã trên phạm vi cả nước. Vì vậy, hiện nay với những xã, phường, thị trấn có Công an chính quy làm Trưởng công an xã thì họ không phải là công chức cấp xã. Đối với xã, phường, thị trấn chưa bố trí lực lượng công an chính quy thì Trưởng Công an là công chức cấp xã.