CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ LÝ LUẬN 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Dạy học tập trung vào phát triển năng lực cho người học không phải là vấn đề mới mẻ trong lịch sử. Có rất nhiều quan điểm, tư tưởng và công trình nghiên cứu về năng lực dưới nhiều góc độ, khía cạnh khác nhau. Dù ở góc độ nào đi chăng nữa thì nhìn chung đều hướng vào người học, hình thành và phát triển tối đa khả năng của người học nhằm đáp ứng yêu cầu của xã hội.1 Nghiên cứu ở nước ngoài về năng lực giải quyết vấn đề Ở phương Tây có nhiều quan điểm về năng lực (thậm chí trái ngược nhau): theo quan điểm di truyền học, trường phái A.
Simson cho rằng: Năng lực phụ thuộc tuyệt đối vào tính chất bẩm sinh di truyền của gen. Theo quan điểm xã hội học, E. Theo trường phái tâm lí học hành vi, J.Watson (1870-1958) coi năng lực của con người chỉ là sự thích nghi sinh vật với điều kiện sống. Nhìn chung các quan niệm này chỉ xem xét năng lực từ phía bản năng sinh vật, từ yếu tố bẩm sinh di truyền của con người mà coi nhẹ yếu tố giáo dục.
Các nhà tâm lý học Mácxit nhìn nhận và nghiên cứu về vấn đề năng lực theo cách khác. Họ không tuyệt đối hóa vai trò của yếu tố bẩm sinh di truyền đối với năng lực mà nhấn mạnh đến yếu tố hoạt động lao động và học tập trong hình thành năng lực. Karl Marx đã chỉ rõ: “Sự khác nhau về tài năng tự nhiên của các cá 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhân không phải là nguyên nhân mà là kết quả của sự phân công lao động”[A. Engels thì cho rằng: “Lao động đã sáng tạo ra con người” [A.
Trường phái tâm lý học Xô Viết với A. Laytex và tiêu biểu là B. Chieplov coi năng lực là những đặc điểm tâm lí cá nhân có liên quan với kết quả tốt đẹp của việc hoàn thành một hoạt động nào đó. Cũng với quan điểm trên, X.Rubinstein chú trọng đến tính có ích của hoạt động, ông coi năng lực là điều kiện cho một loại hoạt động có ích của con người: Năng lực là toàn bộ những thuộc tính tâm lí làm cho con người thích hợp với một loại hoạt động có ích lợi cho xã hội nhất định.
Năng lực là một tổ hợp bao gồm sự hiểu biết (kiến thức), thái độ, kỹ năng và kinh nghiệm cần thiết bắt buộc thực hiện có hiệu quả trong thực thi nhiệm vụ thực tiễn. Những hoạt động này có thể liên quan đến bất kỳ lĩnh vực nào, mặc dù chúng được liên kết với lĩnh vực công việc và tồn tại xã hội trong môi trường mới. Vào những năm 1970, giáo dục - đào tạo tập trung vào năng lực ra đời được xem như một làn gió mới làm tươi mát phong trào giáo dục - đào. Các nhà giáo dục và đào tạo nghề đã nhất trí và chú trọng tập trung vào 2 chủ đề chính là “Học tập và nâng cao chất lượng và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ” (Weinberger, 1998).
Bằng việc chú trọng vào việc nâng cao chất lượng và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ, tiếp cận dựa trên năng lực là rất phổ biến trên toàn thế giới. Tiếp cận năng lực trong giáo dục (CBE- competancy based education) tập trung vào kết quả học tập, nhắm tới những gì người học dự kiến phải làm được hơn là nhắm tới những gì họ cần phải học được (Richards và Rodgers, 2001). CBE xuất hiện tại Hoa Kỳ trong những năm 1970 gắn với một phong trào giáo dục chủ trương xác định mục tiêu giáo dục bằng cách mô tả cụ thể để có thể đo lường được những kiến thức, kỹ năng và thái độ mà học 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sinh cần phải đạt được sau khi kết thúc khóa học. Tiếp cận năng lực trong giáo dục cũng có thể được định nghĩa là một chiến lược giảng dạy, trong đó quá trình học tập dựa trên năng lực thực hiện (performance-based learning).
Người học chứng minh mức độ nắm kiến thức của mình bằng hành động cụ thể. Nhiều tác giả cho rằng, tiếp cận năng lực trong giáo dục là một cách tiếp cận chức năng giáo dục nhấn mạnh tới kỹ năng sống và đánh giá mức độ làm chủ những kỹ năng theo mức độ thực hiện hoạt động thực tế của người học. Theo Văn phòng Giáo Dục Hoa Kỳ (U. Office of Education) “Đào tạo người học dựa trên năng lực thực hiện dẫn họ đến việc làm chủ được những kỹ năng cơ bản và kỹ năng sống cần thiết của cá nhân và hòa nhập tốt vào hoạt động lao động ngoài xã hội " (Văn phòng Giáo dục Hoa Kỳ, 1978).
Năng lực của người học đối với một môn khoa học nào đó được mô tả kết hợp kiến thức, kỹ năng, thái độ thành hành vi cần thiết giúp người học thực hiện có hiệu quả những nhiệm vụ thực trong cuộc sống. Những năng lực được thiết kế trong khóa khọc có thể liên quan đến bất kỳ lĩnh vực nào của cuộc sống hàng ngày, tuy nhiên nó thường liên quan đến các lĩnh vực của công việc và các kỹ năng giúp con người tồn tại trong một môi trường nhiều biến động của xã hội [A. Boyatzis et al và Whetten & Cameron (1995) cho rằng phát triển các chương trình giáo dục và đào tạo dựa trên mô hình năng lực cần xử lý một cách có hệ thống ba khía cạnh sau: (1) xác định các năng lực, (2) phát triển chúng, và (3) đánh giá chúng một cách khách quan. Để xác định được các năng lực, điểm bắt đầu thường là những kết quả đầu ra (outputs).
Từ những kết quả đầu ra này, đi đến xác định những vai trò của người có trách nhiệm phải tạo ra các kết quả đầu ra này. Một vai trò là một tập hợp các hành vi được mong đợi về một người theo những nghĩa vụ và địa vị công việc của người đó. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Các mô hình năng lực đã được phát triển rộng khắp trên thế giới với hệ thống chất lượng quốc gia về đào tạo nghề nghiệp (National Vocational Qualifications (NVQs)) ở Anh và xứ Wales. Khung chất lượng quốc gia của New Zealand (New Zealand's National Qualifications Framework), các tiêu chuẩn năng lực được tán thành, khẳng định bởi Hội đồng đào tạo quốc gia Australia về đào tạo (National Training Board (NTB)), và Hội đồng thư ký về những kỹ năng cần thiết phải đạt được (the Secretary's Commission on Achieving Necessary Skills (SCANS)) và những tiêu chuẩn kỹ năng quốc gia (the National Skills Standards) ở Mỹ, các bộ năng lực này được coi là các bộ năng lực kinh điển [B.
Nổi bật hơn cả là bộ năng lực SCANS của Hội đồng thư ký về những kỹ năng cần thiết phải đạt được (Mỹ). Ở đó, người ta đưa ra 5 nhóm năng lực cần thiết mà người lao động thế kỷ 21 phải có và nhà trường phải tạo ra chúng ở người học bao gồm: nguồn lực (gồm năng lực xác định, tổ chức, lập kế hoạch và phân bổ nguồn lực như thời gian, tiền bạc, nguyên vật liệu và phương tiện, nguồn nhân lực), hợp tác, khai thác và sử dụng thông tin, thông hiểu những mối quan hệ nội tại, làm việc trong môi trường đa dạng về kỹ thuật.Để hình thành được 5 nhóm năng lực này nhất thiết phải đạt được 3 nhóm kỹ năng cơ bản là: các kỹ năng cơ bản (đọc, viết, số học và toán học, nói nghe), kỹ năng tư duy (tư duy sáng tạo, ra quyết định, giải quyết vấn đề, nhìn thấy trước vần đề, biết cách học và có lý lẽ) và phẩm chất cá nhân (trách nhiệm cá nhân, lòng tự trọng, hòa đồng, tự quản, chính trực). Từ năm 2003, PISA(của các nước OECD – tổ chức hợp tác và phát triển quốc tế) đã phát triển khung đánh giá năng lực giải quyết vấn đề để giúp học sinh giải quyết những vấn đề mà họ sẽ gặp phải trong cuộc sống ở ngoài xã 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hội cũng như trong công việc và học tập. Đối với một số thách thức của cuộc sống, học sinh cần phải vận dụng những kiến thức và kỹ năng đã học được trong các môn học để giải quyết những vấn đề liên quan khác.
Các vấn đề sẽ được kết hợp với kiến thức môn học và thường sẽ yêu cầu học sinh đối phó với những tình huống không quen thuộc bằng cách suy nghĩ linh hoạt và sáng tạo. PISA 2003 chú trọng đến khả năng đọc, toán và khoa học được kết hợp bởi một năng lực tổng thể để giải quyết vấn đề trong tình huống thực tế vượt ra ngoài bối cảnh cụ thể của các môn học. Năng lực GQVĐ chủ yếu tập trung vào ba loại tình huống: • Ra quyết định; • Đánh giá và phân tích hệ thống các tình huống; • Giải quyết vấn đề. PISA 2012 tập trung chủ yếu vào việc đánh giá năng lực GQVĐ của cá nhân trên máy tính.
Khung năng lực GQVĐ của PISA tập trung vào ba yếu tố quan trọng đối với việc đánh giá: bối cảnh vấn đề, bản chất vấn đề, và quá trình nhận thức có liên quan trong việc giải quyết vấn đề. Năng lực GQVĐ là một mục tiêu trung tâm trong chương trình giáo dục của nhiều quốc gia. Năng lực GQVĐ cung cấp cơ sở cho việc học tập trong tương lai, tham gia có hiệu quả các hoạt động cá nhân cũng như các hoạt động ngoài xã hội. Học sinh có thể vận dụng linh hoạt những kiến thức đã học để giải quyết vấn đề trong những tình huống mới.
Những nghiên cứu nổi bật của PISA được thực hiện trong việc giải quyết những vấn đề phức tạp, đánh giá năng lực giải quyết vấn đề trên máy tính và đánh giá năng lực GQVĐ trong cuộc sống hàng ngày chứ không chỉ bó hẹp trong kiến thức các môn học. Những nghiên cứu này tạo thuận lợi cho việc hiểu biết và đo lường năng lực GQVĐ của cá nhân. 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Nghiên cứu ở trong nước về năng lực giải quyết vấn đề Ở Việt Nam cũng có nhiều tác giả nghiên cứu về năng lực, đặc biệt là các nhà tâm lí học như: Trần Trọng Thủy, Phạm Minh Hạc, Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Công Khanh, Bùi Văn Huệ, Nguyễn Huy Tú, Dương Thu Mai, Nguyễn Vũ Bích Hiền… Phạm Minh Hạc (2006), Tiềm năng - Năng lực - Nhân tài, Nghiên cứu con người, số 24.
Tác giả cho rằng năng lực đó là sức người, cá thể và tập thể, hợp thành bởi các tri thức, kỹ năng, thái độ, giá trị và được phát triển lên trình độ cao, phục vụ xã hội đạt thành tựu xuất sắc, nổi bật. Theo ông, vấn đề năng lực luôn gắn liền với vấn đề nhân tài – hay còn gọi là tài năng [A.