phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài Chƣơng 2: Xây dựng và sử dụng bộ câu hỏi Trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn dạng câu nhiễu đúng một phần để kiểm tra – đánh giá kết quả học tập của học sinh phần Sinh học Tế bào, Sinh học 10, Trung học phổ thông Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Trên thế giới Trong lịch sử phát triển của quá trình giáo dục, KT-ĐG giá đƣợc coi là một khâu có vai trò rất quan trọng, là bộ phận cấu thành của quá trình dạy học. Trắc nghiệm đã có một thời gian phát triển trong KT-ĐG và đã đƣợc sử dụng để đo lƣờng trong KT-ĐG.
Trên thế giới, việc sử dụng trắc nghiệm vào các mục đích khác nhau đã đƣợc xuất hiện từ rất sớm. Cho đến ngày nay, trắc nghiệm đã không ngừng phát triển và đƣợc áp dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực, trong đó có Giáo dục và đào tạo. Các phƣơng pháp đo lƣờng và trắc nghiệm lần đầu tiên đƣợc tiến hành vào thế kỷ XVII-XVIII trong lĩnh vực Vật lý và Tâm lý học, sau đó lan dần sang ngành Động vật học ở châu Âu. Ban đầu, các nhà nghiên cứu chú trọng đến các phép đo liên quan đến thính giác, thị giác, thị giác, tốc độ phản xạ, sau đó mới nghiên cứ đến thời gian nhận thức, tốc độ nhận thức.
Vào thế kỉ XIX, ngƣời ta bắt đầu quan tâm đến đo về những khác biệt cá nhân. Francis Galton, một trong những ngƣời đã cống hiến đời mình cho việc nghiên cứu cá nhân con ngƣời, là ngƣời đầu tiên quan tâm đến đặc tính cá nhân có di truyền hay không nhằm chọn lọc những ngƣời làm cha mẹ tốt nhất. Từ đó, ông triển khai các trắc nghiệm để đo các đặc điểm con ngƣời và gọi đó là các trắc nghiệm về trí tuệ. Ở Mỹ, lĩnh vực khoa học này phát triển mạnh vào thời kỳ trƣớc và sau thế chiến thứ hai.
Đầu thế kỷ XIX, Edward Thorndike là ngƣời đầu tiên 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com dùng trắc nghiệm nhƣ một phƣơng pháp “khách quan và nhanh chóng” để đo trình độ kiến thức của học sinh dùng với một số môn học và sau đó là đối với một số lĩnh vực kiến thức khác. Nhƣ vậy, khoa học đo lƣờng trong Giáo dục đƣợc cho rằng thực sự bắt đầu cách đây chỉ khoảng một thế kỷ. Năm 1904 nhà tâm lý học ngƣời Pháp Alfred Binet trong quá trình nghiên cứu trẻ em mắc bệnh tâm thần, ông đã xây dựng một số bài trắc nghiệm về trí thông minh. Ông là ngƣời xây dựng phƣơng pháp để xác định những trẻ em bị tàn tật về mặt tâm thần, không thể tiếp thu đƣợc lƣợng kiến thức theo cách dạy bình thƣờng ở nhà trƣờng.
Bộ câu hỏi của ông yêu cầu những kỹ năng tổng quát, cách lập luận thông thƣờng và một kho những kỹ năng chung cho câu trả lời. Điểm số đƣợc cho dựa theo tuổi trí lực. Năm 1916, tiến sĩ Lewis Terman ở trƣờng đại học Stanford đã dịch và soạn các bài trắc nghiệm này ra tiếng Anh, từ đó trắc nghiệm trí thông minh này đƣợc gọi là trắc nghiệm Stanford – Binet. Các trắc nghiệm Binet đƣợc sử dụng rộng rãi trong một thời gian dài và có tác động lớn đến việc triển khai các phép đo lƣờng tiếp theo.
[14] Từ năm 1920, ở Mỹ, các loại trắc nghiệm thành quả học tập tiêu chuẩn hóa đƣợc phát triển rất nhanh vì kết quả làm bài đƣợc đánh giá một cách khách quan và có thể kiểm tra đánh giá đƣợc trình độ của nhiều học sinh trong cùng một thời điểm [27, tr. 214-218] Năm 1939, đã xuất hiện những phƣơng pháp nghiên cứu tổng hợp xu thế sử dụng các trắc nghiệm trí tuệ nhiều mặt. Trong những năm 60 của thế kỷ XX, trắc nghiệm đƣợc sử dụng trong lĩnh vực giáo dục phát triển mạnh mẽ ở Mỹ. Cùng với sự phát triển của công nghệ tin học, năm 1963 xuất hiện công trình của Gerberich dùng máy tính điện tử để xử lý các kết quả trắc nghiệm trên diện rộng.
Tiếp đó là ở Anh 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cũng ra đời hội đồng hoàng gia hàng năm để quyết định các trắc nghiệm chuẩn cho trƣờng trung học. Cũng vào năm 1963, tại Liên Xô (cũ) việc nghiên cứu kết quả của phƣơng pháp trắc nghiệm đã trở thành đề tài lớn của Viện hàn lâm khoa học giáo dục Liên Xô do E. Montzen chủ trì và sau đó nhiều công trình khác cũng lần lƣợt đƣợc công bố.214-218] Tại Mỹ, với việc thành lâp một số tổ chức dịch vụ trắc nghiệm đã hình thành nên một ngành công nghiệp trắc nghiệm và đã đem lại cho nền kinh tế Mỹ hàng trăm triệu USD mỗi năm. Chẳng hạn nhƣ ETS (Educational Testing Service) là một tổ chức dịch vụ trắc nghiệm nổi tiếng ở Mỹ với các sản phẩm nhƣ TOEFL, SAT, GMAT… phục vụ cho nhu cầu đánh giá giáo dục cho cá nhân, trƣờng học và các cơ quan ở gần 200 quốc gia.
Hàng năm ETS thiết kế và tổ chức triển khai hơn 12 triệu lƣợt trắc nghiệm trên khắp thế giới. Bên cạnh đó còn có nhiều nghiên cứu, khảo sát về kỹ thuật đo lƣờng trong giáo dục bằng TNKQ kết hợp xử lý trên máy tính các số liệu thu đƣợc nhằm đánh giá chính xác kết quả học tập. nhiều công trình đã đƣợc công bố trong đó các tác giả đi sâu phân biệt rõ từng loại trắc nghiệm, ƣu – nhƣợc điểm, vai trò, tiêu chí, nguyên tắc phân biệt của câu hỏi trắc nghiệm, độ giá trị, độ tin cậy của bài tắc nghiệm. Sự phát triển về khoa học đo lƣờng và đánh giá không chỉ dừng lại ở Hoa Kỳ, Châu Âu mà ở các nƣớc Châu Á cũng rất phát triển.
Trong những năm gần đây, trắc nghiệm đã đƣợc sử dụng rộng rãi trong quá trình giảng dạy ở phổ thông cũng nhƣ ở Đại học. Phƣơng pháp này từng bƣớc đƣợc nghiên cứu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng. Để nâng cao năng lực tự học, tự kiểm tra trong thi cử, nhiều trƣờng đại học đã cài đặt chƣơng trình TNKQ vào máy vi tính để sinh viên tự kiểm tra, đánh giá kết quả trƣớc khi bƣớc vào kỳ thi chính thức. Ở các trƣờng phổ thông, phƣơng pháp trắc nghiệm 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cũng đƣợc sử dụng trong một số môn học và kỳ thi thích tạo nhiều chuyển biến tích cực.
Các nƣớc Hàn Quốc, Trung Quốc, Thái Lan từ những năm 1970 đã dùng đề thi TNKQ trong kỳ thi tuyển sinh vào Đại học. Tại Nhật bản thì dùng TNKQ từ những năm 1990 và duy trì cho đến nay – theo “Trung tâm quốc gia tuyển sinh Đại học” – thì đề thi chung cho tất cả các trƣờng đƣợc soạn hoàn toàn theo hình thức TNKQ. [28] Nhƣ vậy, khoa học về đo lƣờng và TNKQ ra đời cách đây không lâu nhƣng nó đã nhanh chóng khẳng định vị trí và đƣợc áp dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực của xã hội. Ở Việt Nam Mặc dù trên thế giới trắc nghiệm khách quan đƣợc sử dụng từ rất sớm, song ở Việt Nam TNKQ đƣợc xuất hiện muộn hơn.
Khoa học về đo lƣờng và trắc nghiệm ở nƣớc ta phát triển chậm. Cách đây khoảng 10 năm, khi các nƣớc phát triển đã sử dụng TNKQ cho các kỳ thi tuyển thì ở Việt Nam các tài liệu về lĩnh vực này gần nhƣ không có. Trƣớc tình hình đó, Bộ Giáo dục đã mời chuyên gia từ nƣớc ngoài sang để tổ chức hội thảo, dịch sách, cử một số giảng viên Đại học đi học ở nƣớc ngoài. Đến năm 1996, kỳ thi tuyển sinh Đại học thí điểm tại trƣờng Đại học Đà Lạt bằng phƣơng pháp TNKQ đã có những thành công nhất định.
Ở Miền Nam Việt Nam, từ những năm 1960 đã có nhiều tác giả sử dụng TNKQ đã có nhiều tác giả sử dụng TNKQ trong một số ngành khoa học (chủ yếu là tâm lý học). Nhiều nhà nghiên cứu đã bắt đầu tìm tòi trong lĩnh vực mới mẻ này. Năm 1956 – 1960, ra đời công trình nghiên cứu hình thức kiểm tra trắc nghiệm ở bậc trung học “Trắc nghiệm vạn vật học” của Lê Quang Nghĩa (1963) và Phùng Văn Hƣớng (1964). Năm 1969, tác giả Dƣơng Thiệu Tống đã đƣa một số TNKQ và thống kê giáo dục vào giảng 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com dạy tại lớp cao học và tiến sĩ giáo dục học tại trƣờng Đại học Sài Gòn.
Nhƣ vậy, khoa học đo lƣờng trắc nghiệm chính thức đƣợc đƣa vào chƣơng trình đào tạo Giảng viên. Trong lĩnh vực Sinh học, từ năm 1971 đã có nhiều công trình nghiên cứu về TNKQ nhƣ: tác giả Trần Bá Hoành với công trình “Thử dùng phương pháp test điều tra tình hình nghiên cứu của học sinh về một số khái niệm trong chương trình sinh vật học đại cương lớp 9”. Năm 1974, ở miền Nam đã tổ chức thi tú tài bằng phƣơng pháp TNKQ dạng nhiều lựa chọn với việc lựa chọn đề thi từ nhà khảo thí (vụ tuyển sinh) chuyên phát hành đề thi (trực thuộc Bộ Giáo dục Sài Gòn). Ở miền Bắc, TNKQ đƣợc nghiên cứu và triển khai muộn hơn so với miền Nam.
Trong dạy học, Giáo sƣ Trần Bá Hoành là ngƣời đầu tiên sử dụng thuật ngữ “Test” để nói đến TNKQ. Năm 1971, Giáo sƣ đã biên soạn các câu hỏi và áp dụng trắc nghiệm vào việc kiểm tra của học sinh và thu đƣợc một số kết quả. Năm 1986, tại khoa Sinh – Kỹ thuật nông nghiệp thuộc trƣờng Đại học sƣ phạm Hà Nội đã tổ chức hội thảo với nội dung “Phƣơng pháp xây dựng hệ thống câu hỏi lựa chọn đa phƣơng án” do Tiến sĩ P.Herath trình bày và hƣớng dẫn. Sau hội thảo này, có nhiều giảng viên triển khai xây dựng và áp dụng trắc nghiệm vào KTĐG nhƣ: Lê Đình Trung (1988) “Nghiên cứu quy trình và những kết quả bƣớc đầu xây dựng câu hỏi dạng MCQ về một số nội dung kiến thức Sinh học ở trƣờng Đại học Sƣ phạm”, Lê Đình Trung và Nguyễn Thị Kim Giang (1988) “Xây dụng câu hỏi dạng MCQ về nội dung vật chất di truyền và biến đổi vật chất di truyền trong chƣơng trình di truyền học ở trƣờng Đại học Sƣ phạm”.
13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Từ năm 1990, trắc nghiệm lƣợng giá mới thực sự đƣợc quan tâm và ứng dụng ở nhiều cấp học.