Chương 1. Một số van dé lý luận về bảo dam mục tiêu bình đẳng giới trong xây dựng văn bản pháp luật về lĩnh vực lao động. Thực trạng bảo đảm mục tiêu bình đăng giới trong xây dựng văn bản pháp luật về lĩnh vực lao động. Giải pháp bảo đảm mục tiêu bình đẳng giới trong xây dựng văn bản pháp luật về lĩnh vực lao động.
CHUONG 1: MỘT SỐ VAN DE LÝ LUẬN VE BAO DAM MỤC TIỂU BÌNH DANG GIỚI TRONG XÂY DỰNG VĂN BAN PHÁP LUẬT VE LĨNH VUC LAO ĐỘNG 1. Khái niệm bảo đảm mục tiêu bình đẳng giới trong xây dựng văn bản pháp luật về lĩnh vực lao động 1. Khái niém bình dang giới BĐG là một khái niệm đã không ngừng phát triển theo thời gian, gin liền với những phong trào đấu tranh vì quyền phụ nữ từ đầu thế kỷ XVIII và các cam kết quốc tế quan trọng như Công ước của Liên Hợp Quốc về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ (CEDAW}?, Tuyên bố và cương lĩnh hành động Bắc Kinh’,. Những cột mốc quan trọng này không chỉ phản ánh sự tiến bộ mà còn nhấn mạnh những thách thức còn ton tại trong việc đạt được sự công bằng thực sự giữa các gidi.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, BĐG không chi là một giá tri nhân văn mà còn trở thành một trong những mục tiêu chiến lược nhằm thúc đây phát triển bền vững và công bang xã hội. Các quốc gia trên thế giới ngày càng nhận thức rõ ràng BDG đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển kinh tế và én định xã hội?. Việc đảm bảo quyền bình đăng cho moi giới không chi góp phần xóa bỏ bat công mà còn thúc đây sự tham gia tích cực của tất cả các thành viên trong xã hội, tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế toàn diện. Các nguyên tắc được thê hiện rõ trong nhiều văn kiện quốc tế quan trọng như Hiến chương Liên Hợp Quốc, Công ude CEDAW và Các Mục tiêu Phát triển Bén vững (SDGs) của Liên Hợp Quốc.
Cu thể, Hién chương Liên Hợp Quốc khang định tầm quan trọng của việc tôn trọng quyền con người và đảm bảo bình đắng giữa nam và nữ. Đặc biệt, trong Các Mục tiêu Phát triển Bền vững (SDGs), mục tiêu số 5 được đành riêng cho BĐG, nhân mạnh việc trao quyền cho phụ nữ và trẻ em gái, đảm bảo cơ hội công bằng trong giáo đục, y tế, việc làm và tham gia chính trị. Ngoài ra, Tuyên ? CEDAW là tên viết tat của “Công ước của Liên Hợp Quốc về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử chong lại phụ nữ”(Convention on the Elimination of all forms of Discrimination against Women) đã được Đại hội đồng Liên hợp quốc phê chuẩn ngày 18/12/1979. 3 Tuyên bố và cương lĩnh hành động Bắc Kinh được thông qua tại Hội nghị thế giới về Phụ nữ lần thứ 4 tại Bắc Kinh ngay 15, tháng 2 năm 1995.
4 International Labour Organization. Gender equality at the heart of decent work. 5 United Nations Development Programme. Gender equality and inclusive growth in Asia-Pacific: Policy recommendations for labor markets.
§ United Nations Women. Progress of the world’s women 2019-2020: Families in a changing world. bố Bắc Kinh năm 1995 (Beijing Declaration and Platform for Action) cũng đề ra chiến lược toàn điện nhằm thúc đây quyền bình đẳng cho phụ nữ trên phạm vi toàn cầu. Mặt khác, BDG còn được xem là yếu tố xuyên suốt, ảnh hưởng đến việc thực hiện thành công các mục tiêu phát triển bền vững khác như xóa đói giảm nghèo, nâng cao chất lượng giáo dục và thúc đây tăng trưởng kinh tế.
Không chỉ dừng lại ở mức độ cam kết, các quốc gia đang tích cực triển khai nhiều chính sách và biện pháp cụ thé nhằm thúc đây BĐG. Sự hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này ngày càng được đây mạnh thông qua các dién đàn toàn cầu, hội nghị quốc tế và các chương trình phát triển do Liên Hợp Quốc điều phối. Điều này cho thay BDG không chỉ là trách nhiệm của mỗi quốc gia mà còn là mục tiêu chung của cộng đồng quốc tế nhằm hướng tới một thế giới công bằng, hòa bình và phát triển bền vững. Đề có thể định nghĩa thế nào là BĐG, trước hết cần phải hiểu khái niệm giới và một số khái niệm khác liên quan.
Cụ thé: Giới tinh (Sex) dé cập đến một tap hợp các thuộc tính sinh học ở người và động vật có liên quan đến các đặc điểm sinh lý. Các đặc điểm sinh lý bao gồm nhiễm sắc thé, biểu hiện gen, chức năng hormone và giai phẫu sinh sản/tình dục. Giới tính thường được phân loại là nữ hoặc nam mặc dù có sự khác biệt trong các thuộc tính sinh học cầu thành giới tính và cách các thuộc tính đó được thê hiện”. Theo đó, giới tính là bam sinh và đồng nhất, nghĩa là giữa nam và nữ ở khắp mọi nơi trên thế giới đều có những sự khác biệt như nhau về mặt sinh học, không thể thay đổi được, do các yếu tô sinh học quyết địnhŠ.
Ví dụ, ngoài những đặc điểm chung, giữa nam và nữ có sự khác biệt cơ bản về cấu tạo và chức năng của cơ quan sinh dục. Nam thường có rau, cơ quan sinh duc nam tạo ra tinh trùng; nữ có kinh nguyệt, cơ quan sinh dục nữ tạo ra trứng. Giới (gender) còn gọi là giới xã hội lại được hình thành thông qua quá trình giáo dục. Trong khi các đặc điểm giới tính rất ít thay đổi thì các đặc điểm về giới lại đa đạng, tủy thuộc vào điều kiện địa lý, thể chế xã hội, lịch sử.
Mối quan hệ giới liên quan đến hàng loạt van đề về thé chế và xã hội chứ không phải là mối quan hệ cá biệt giữa một nam giới hay nữ giới nào. Như vậy, giới là khái niệm chỉ sự khác biệt giữa nam và nữ vê mặt xã hội, thê hiện qua các môi quan hệ và tương quan vê đặc diém, 7 European Association of Science Editors (2020), BDG và giới tính trong nghiên cứu (SAGER): Sự cần thiết của Bộ hướng dân SAGER và cách sử dụng, tr.int/gender-equity-rights/understanding/gender-definition, WHO, “Gender and Health,” 2022, truy cập ngày 15/03/2025. địa vi, vai trò xã hội giữa phụ nữ và nam giới trong bối cảnh xã hội cụ thé’. Ví du, phụ nữ có thể mạnh mẽ, quyết đoán và đảm nhận vai trò lãnh đạo, phi công hay thợ máy.
Ngược lại, nam giới cũng có thể địu dàng, kiên nhẫn và làm các công việc như đầu bếp, nhân viên đánh máy hay thư ký. Những đặc điểm này không cố định mà chịu ảnh hưởng của tư duy xã hội, chuẩn mực văn hóa và quan niệm về giới trong từng thời kỳ. Chúng thay đổi theo từng nền văn hóa, bối cảnh xã hội và chịu tác động của các yếu tô lich sử, tôn giáo, kinh tế. Do đó, vị thé của phụ nữ phương Tây khác với phụ nữ phương Đông, địa vị xã hội của phụ nữ Việt Nam cũng không giống với phụ nữ trong các quốc gia Hồi giáo và sự khác biệt còn thể hiện giữa phụ nữ nông thôn và phụ nữ thành thị.
Việc hiểu đúng khái niệm giới tính và giới không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến việc hiểu đúng về khái niệm BDG mà còn anh hưởng đến cách xây đựng và thực thi các chính sách pháp luật liên quan. Bởi BDG là một khái niệm đa chiều, được hiểu va giải thích qua nhiều quan điểm khác nhau trong các lĩnh vực xã hội, kinh tế, văn hóa và pháp lý. Cụ thể: Trên góc độ ngôn ngữ, theo Đại Từ điển Tiếng Việt, bình dang được hiểu là “sự ngang nhau về nghĩa vụ và quyên lợi: bình đẳng trước pháp luật, bình đẳng nam nữ ”10, Hay nói cách khác, theo Từ điển Bách khoa: “Binh dang là sự được đối xử với nhau về các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa. không phân biệt thành phan và địa vị xã hội, trong đó trước tiên và cơ bản nhất là bình đẳng trước pháp luật! ”.
BĐG theo nội dung Công ước CEDAW là “tinh trạng (điều kiện sống, sinh hoạt, việc làm.) mà trong đó phụ nữ và nam giới được hưởng vi trí như nhau, ho có cơ hội bình đẳng để tiếp cận, sử dụng các nguôn lực đề mang lại lợi ích cho mình, phát hiện và phát triển tiềm năng của mỗi giới nhằm công hiến cho sự phát triển của quốc gia. Theo Công ước này, BĐG dựa trên ba nguyên tắc chính: Nguyên tắc không phân biệt đổi xử, nguyên tắc BĐG thực chất, và nguyên tắc nghĩa vụ quốc gia’. Những cách hiểu trên cung cấp nền tang chung dé phân tích các quan điểm cụ thé về BĐG. 9 Hà Thị Hoa Phượng (2024), Pháp luật lao động Việt Nam về bình đẳng giới, Luận văn Tién Sĩ, Dai học Luật Hà Nội.
10 Nguyễn Như Ý (Chủ biên) (1998), Đại Từ điễn Tiếng Việt, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội. 11 Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam (1995), Từ điền bách khoa Việt Nam, tập 1, Trung tâm biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam, Hà Nội, tr. 12 Lê Thị Hồng Hạnh (2024), “Một số vấn đề lý luận về bảo đảm mục tiêu BĐG trong xây dựng pháp luật ở Việt Nam’ trong Kỷ yêu hội thảo khoa học khoa Pháp luật hành chính — nhà nước về mục tiêu BBG trong xây dựng pháp luật ở Việt nam hiện nay, Hà Nội, ngày 20 tháng 12 năm 2024, trường Đại học Luật Hà Nội. 10 Theo Chú Nghĩa Nữ Quyên (Feminist Perspectives) BĐG không chi đơn thuần là sự công bằng giữa nam va nữ mà còn đòi hỏi việc dam bảo cho phụ nữ và trẻ em gái có cơ hội như nhau trong mọi lĩnh vực của cuộc sống.
Chủ nghĩa nữ quyền đặc biệt chú trọng đến việc tôn trọng kinh nghiệm, bản sắc, kiến thức và thế mạnh của phụ nữ, đồng thời nỗ lực trao quyền dé họ thực hiện đầy đủ các quyền lợi của minh. Day là một trong những quan điểm quan trọng nhất thúc đây BDG trên toàn cầu. Trong khi đó, Quan Điểm Xã Hội Học (Sociological Perspectives) lại tập trung vào cách các cấu trúc xã hội, vai trò giới và chuẩn mực văn hóa anh hưởng đến sự công bằng giữa nam và nữ. Theo đó, bat BDG không chỉ xuất phát từ sự phân biệt trong luật pháp hay kinh tế, mà còn từ các kỳ vọng xã hội, định kiến giới và những quy chuân văn hóa đã ăn sâu trong cộng dong’.
Quan điểm kinh tế (Economic Perspectives) nhìn nhận BĐG qua lăng kính cơ hội kinh tế, thu nhập và quyền lực tài chính.