phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, luận văn gồm có 2 chương. Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc tạo biểu tượng về những biến cố lớn trong dạy học lịch sử ở trường THPT. Một số biện pháp tạo biểu tượng về những biến cố lớn trong dạy học lịch sử VN lớp 11 THPT. 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC TẠO BIỂU TƢỢNG VỀ NHỮNG BIẾN CỐ LỚN TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƢỜNG THPT 1.
Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm biểu tượng Theo từ điển “ Tâm lý học” ( Vũ Dũng- Nxb Khoa học xã hội, 2000) thì “BT là hình ảnh các vật thể, cảnh tượng và sự kiện xuất hiện trên cơ sở nhớ lại hay tưởng tượng, khác với tri giác, biểu tượng có thể mang tính khái quát. Nếu tri giác chỉ liên quan đến hiện tại, thì BT liên quan đến quá khứ, tương lai” [tr.26] như vậy biểu tượng giúp con người phát triển tư duy, nhận thức sự việc một cách nhanh chóng, khái quát. Theo từ điển Tiếng Việt ( tác giả Hoàng Phê chủ biên)-Nxb Khoa học xã hội, 2005, BT là hình ảnh tượng trưng, là hình ảnh của nhận thức, cao hơn cảm giác cho ta hình ảnh của sự vật còn giữ lại trong đầu óc khi tác dụng của sự vật vào giác quan đã chấm dứt.
Theo quan điểm của tác giả, mỗi cá nhân có một trí tưởng tượng phong phú khác nhau, nên biểu tượng là do cá nhân tự tạo ra và ghi nhớ sự việc theo cách của riêng mình. Theo tâm lý học Mác-xít, xét về phương thức phản ánh thì nhận thức là sự phản ánh hiện thực khách quan với các cấp độ: phản ánh trực tiếp sự vật, hiện tượng bằng cảm giác và tri giác hoặc phản ánh gián tiếp sự vật, hiện tượng ở mức độ khái quát đơn giản bằng trí nhớ và tưởng tượng dưới dạng các biểu tượng hoặc phản ánh sự vật, hiện tượng ở mức độ khái quát cao nhất với những thuộc tính bản chất bên trong của sự vật, hiện tượng dưới dạng các khái niệm, quy luật.Theo cách hiểu này thì biểu tượng là hình thức cao nhất và phức tạp nhất của giai đoạn nhận thức cảm tính, biểu tượng là chiếc cầu nối giữa nhận thức cảm tính và nhận thức lí tính.Trong quá trình tri giác thế giới bên ngoài con người phản ánh sự vật, hiện tượng xung quanh mình dưới dạng hình ảnh của các vật thể. Các hình ảnh này phản ánh và lưu giữ trong ý thức các đặc điểm bên ngoài của sự vật. Hình ảnh được lưu giữ đó là biểu tượng BT là những hình ảnh trực quan nảy sinh trong óc người về những sự vật và hiện tượng đã được tri giác trước đây.
Biểu tượng được hình thành tên cơ sở những 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hình ảnh được lưu giữ lại ở vỏ não do cảm giác, tri giác, phản ánh trực tiếp những thuộc tính bên ngoài của sự vật, hiện tượng chẳng hạn BT về tình trạng bị áp bức, bóc lột của người nông dân trong xã hội phong kiến nửa thuộc địa dưới thời thuộc Pháp, BT về mâu thuẫn dân tộc đối kháng giữa nhân dân bị nô dịch bần cùng với TD Pháp xâm lược tàn bạo… Cũng giống như tri giác, biểu tượng ban đầu của con người chỉ mang tính đầy đủ tương đối, mỗi người ghi nhớ hình ảnh- biểu tượng của mình theo mức độ hiểu biết của cá nhân, phù hợp với môi trường, mối quan hệ và trình độ nhận thức của chủ thể. Trong biểu tượng có những nét không rõ ràng, thậm chí không đúng và ít liên quan tới nhau. Trong quá trình sinh sống học tập, giao tiếp và tham gia các hoạt động khác nhau của con người, biểu tượng ngày càng sinh động, rõ ràng, đầy đủ và chính xác, có liên quan với nhau, đồng thời có phân biệt với nhau. Tuy nhiên rất ít khi có BT đầy đủ vì một BT đầy đủ phải bao gồm: lịch sử tự nhiên của sự vật, hiện tượng tương ứng.
Điều này khó làm được trong cuộc sống thực tế của mỗi con người. Do vậy biểu tượng trong đời sống thực tế, về bản chất chỉ là những “trích đoạn” từ một biểu tượng được xem là đầy đủ nhất ở một thời điểm cụ thể mà nội dung những “trích đoạn” đó là khác nhau đối với những cá nhân khác nhau, thậm chí ngay ở cả một người cũng có thể khác nhau, tùy trường hợp, tùy hoàn cảnh và điều kiện cụ thể. BT có vai trò quan trọng trong quá trình nhận thức thế giới xung quanh của mỗi cá nhân, trong việc hình thành và phát triển tư duy, kích thích bồi dưỡng trí tưởng tượng của con người, góp phần phát triển trí thông minh, sáng tạo. Nếu không có biểu tượng, nội dung nhận thức cảm tính của bản thân mỗi người chỉ là những cảm giác, tri giác, hơn nữa chỉ dừng lại ở mức phản ánh thế giới trong thời điểm, khi các sự kiện, hiện tượng trực tiếp tác động tới các giác quan.
Sau thời điểm đó, ý thức chúng ta ngừng hoạt động và không lưu giữ được gì vì trong trí nhớ không còn hình ảnh nào của sự vật, hiện tượng. Trong hoạt động nhận thức, biểu tượng luôn có mặt ở mọi lúc, mọi nơi, từ cảm giác, tri giác đến tư duy và cả tưởng tượng nữa…Biểu tượng tạo nên nội dung cơ bản của các kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo. Mặt khác, do gắn với các yếu tố tổng hợp 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nên các biểu tượng là bậc thang kế tiếp từ các hình ảnh cụ thể đến các khái niệm trừu tượng, là khâu trung chuyển, là bước quá độ từ cảm giác, tri giác (nhận thức cảm tính) sang lĩnh vực tư duy (nhận thức lí tính). Hơn nữa, do mang tính biến đổi rộng rãi (là điều kiện để xây dựng hình ảnh mới), biểu tượng đóng vai trò quan trọng và cần thiết trong hoạt động sáng tạo và phát triển tư duy của con người.
Biểu tượng càng phong phú, giàu hình ảnh thì quá trình tư duy và nhận thức của con người càng nhạy bén, chính xác. Vì vậy trong hoạt động học tập của HS, việc tạo cho HS những biểu tượng cụ thể về các nội dung trong bài học thông qua phương pháp trực quan sinh động, qua những câu chuyện lí thú, hấp dẫn, là việc làm có ý nghĩa và mang lại hiệu quả to lớn. Khái niệm biểu tượng lịch sử BT lịch sử là những hình ảnh về những sự kiện, nhân vật, hiện tượng, điều kiện địa lý…được phản ánh trong óc HS với những nét chung nhất, điển hình nhất. Nôi dung của một sự kiện lịch sử được HS nhận thức thông qua việc tạo nên hình ảnh về quá khứ, bằng hoạt động của các giác quan: thị giác tạo nên những hình ảnh trực quan, thính giác đem lại những hình ảnh về quá khứ thông qua lời giảng của GV.Với ý nghĩa như vậy, biểu tượng lịch sử là những hình ảnh thuộc về quá khứ và gắn liền với xã hội loài người.
Với ý này,biểu tượng lịch sử bao trùm tất cả mọi lĩnh vực trong xã hội, đa diện. Nhà bác học người La Mã Cicéron (106-45 TCN) đưa ra quan điểm: biểu tượng lịch sử chính là biểu tượng của cuộc sống với yêu cầu đạt tới ánh sáng của sự thật. Lịch sử ghi lại những sự kiện xảy ra trong tiến trình lịch sử của mỗi nước, mỗi khu vực, nó bao quát, thể hiện tính toàn vẹn, biểu tượng lịch sử sẽ giúp con người tiếp cận gần gũi hơn với nền văn hóa của các thời kì lịch sử đã qua. Những sự kiện (biến cố/ event) diễn ra trong quá khứ cho đến thời điểm hiện tại, không thể thay đổi được, cố định trong không gian và thời gian, mang tính chất tuyệt đối và khách quan nhưng bằng ngòi bút chí công của nhà chép sử, bằng những bức ảnh của nhiếp ảnh gia chúng ta sẽ phần nào khôi phục được bức tranh quá khứ thông qua những biểu tượng lịch sử.
Con người muốn nắm bắt quá khứ, diễn đạt sự kiện theo từ ngữ và giải thích ý nghĩa của sự kiện, Hình dung lịch sử quá khứ một cách tương đối chủ quan đều 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhờ có BT lịch sử làm trung gian khám phá, ghi nhận và là nền tảng để làm phong phú thêm kiến thức mới. Quá trình tập hợp những sự việc diễn ra trong quá khứ làm thành tài liệu cũng chính là câu chuyện kể đối với hiện tại, góp phần to lớn vào việc tạo biểu tượng thông qua ngôn ngữ và âm thanh để có thêm những kiến thức mới. Vai trò của tạo BT trong dạy học lịch sử là rất to lớn, nếu được sử dụng tốt sẽ huy động được sự tham gia của nhiều giác quan, sẽ kết hợp được chặt chẽ hai hệ thống tín hiệu với nhau: tai nghe, mắt thấy, tạo điều kiện cho HS dễ hiểu, nhớ lâu, gây được nhiều mối liên hệ thần kinh tạm thời, khá phong phú, phát triển ở HS năng lực chú ý, quan sát, hứng thú. Quá trình GV giao việc để HS thảo luận tự tạo biểu tượng lịch sử cho một sự kiện , HS sẽ hoạt động theo nhóm và làm thành sản phẩm của nhóm mình, sẽ phát triển ở HS những năng lực: giải quyết vấn đề, năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác, năng lực sử dụng CNTT.
Trên cơ sở nguồn dữ liệu trên, các em tỏ rõ năng lực sáng tạo như: đóng kịch, làm phim, kể chuyện lịch sử, miêu tả, tường thuật. Sau mỗi lần các nhóm trình bày sản phẩm. GV phải đưa ra câu hỏi trọng tâm về việc nhận định, đánh giá biến cố lịch sử đó, để HS có biểu tượng một cách đúng đắn, sâu sắc, góp phần phát triển tư duy của HS. Biến cố lịch sử lớn Theo nhà sử học Đinh Xuân Lâm: “Biến cố lịch sử là: những sự kiện LS lớn có ý nghĩa quan trọng làm biến đổi sâu sắc tình hình mọi mặt, biến cố lịch sử chỉ diễn ra một lần không lặp lại trong quá khứ, phản ánh một tiến trình lịch sử được xác định cụ thể về thời gian, không gian, bối cảnh, con người” [34, tr.
Như vậy chúng ta có thể nhận định biến cố lịch sử luôn diễn ra trong hoàn cảnh, điều kiện lịch sử nhất định, và chính hoàn cảnh, điều kiện lịch sử này, cắt nghĩa những nguyên nhân sâu xa, nguyên nhân trực tiếp, và cả những nguyên cớ bùng nổ biến cố. Hoàn cảnh lịch sử còn giúp người ta hiểu diễn biến và kết quả của quá trình phát triển biến cố.