Chương 1: Tổng quan về cơ tầng tự nhiên và xã hội châu thổ sông Hồng và làng truyền thống của nó. - Chương 2: Cấu trúc làng truyền thống châu thổ sông Hồng. - Chương 3: Tổng quan một số biểu tượng của làng truyền thống châu thổ sông Hồng và giới thiệu biểu tượng lũy tre, giếng nước, sân đình. - Chương 4: Giá trị của biểu tượng lũy tre, giếng nước, sân đình trong cấu trúc làng truyền thống châu thổ sông Hồng, hiện trạng và tương lai.
16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN CƠ TẦNG TỰ NHIÊN VÀ XÃ HỘI CHÂU THỔSÔNG HỒNG VÀ LÀNG TRUYỀN THỐNG CỦA NÓ 1.1 Cơ tầng tự nhiên Việt Nam là quốc gia nằm trên bán đảo Đông Dương, khu vực Đông Nam Á, ven biển Thái Bình Dương, tiếp giáp với Trung Quốc ở phía Bắc, giáp Lào, Campuchia ở phía Tây và phía Đông giáp biển Đông. Là quốc gia có trường độ tương đối dài, khoảng 15 vĩ độ. Dựa vào cấu trúc địa lý và quá trình lịch sử, Việt Nam chia làm ba miền Bắc, Trung và miền Nam. Nằm trong vành đai nội chí tuyến, quanh năm có nhiệt độ cao và độ ẩm lớn.
Tuy nhiên, khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm ở Việt Nam lại không thuần nhất trên toàn lãnh thổ đất nước mà nó được biểu hiện rõ ràng nhất tại khu vực miền Bắc, đặc biệt là vùng châu thổ sông Hồng với dạng khí hậu bốn mùa cụ thể, điều đó khiến cho vùng này cấy được ít vụ lúa hơn một số vùng khác trên cả nước. Việt Nam nói chung và khu vực châu thổ sông Hồng nói riêng luôn luôn đón một lượng bức xạ mặt trời lớn, số giờ nắng từ 1400 đến 3000 giờ trong năm. Bởi vì nắng nhiều nên đây là khu vực được đón lượng mưa rất lớn, mưa chủ yếu tập trung vào mùa hè trong năm. Là khu vực ảnh hưởng bởi gió mùa, cộng thêm sự phức tạp của địa hình, châu thổ sông Hồng luôn gặp bất lợi về thời tiết như bão, lũ lụt,… Là khu vực có vũ lượng hàng năm rất cao, cộng thêm địa hình phức tạp với mạng lưới sông ngòi dày đặc gồm hệ thống các sông như sông Hồng, sông Thái Bình, sông Mã , hồ rất nhiều, đường bờ biển rất dài cùng hệ thống mương máng tưới tiêu dày đặc nên châu thổ sông Hồng từ xa xưa đã là khu vực mang một đặc trưng văn hóa vùng đậm nét cho đến tận ngày nay, đó là văn hóa nước.
Chính yếu tố nước đã tạo ra một sắc thái riêng biệt trong tập quán cư trú, canh tác và sinh hoạt, sản xuất của cư dân trong vùng. Nếu như phương Tây mang đặc trưng văn hóa là dương thì phương Đông nói chung, Việt Nam nói riêng, hay cụ thể là vùng châu thổ 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sông Hồng với đặc trưng văn hóa là mang tính thái âm rõ rệt. Ảnh hưởng của tính âm trong môi trường tự nhiên đã khiến cho nội tại của nó tạo điều kiện tiên quyết, quyết định đặc trưng văn hóa sản xuất và đời sống tâm linh của người dân vùng châu thổ sông Hồng. Điều kiện tự nhiên không những là yếu tố then chốt quyết định văn hóa sản xuất của vùng mà nó còn ảnh hưởng lớn đến phân bố thực vật trong vùng.
Chính sự phân bố thực vật lại tác động trực tiếp đến loại hình sản xuất và đời sống tâm linh của cư dân. Trong điều kiện địa lý và khí hậu của châu thổ sông Hồng, nơi nào để hoang dại một thời gian, nơi đó những loại cây hoang như dương xỉ, mây, chành rành,. sẽ mọc rất nhiều. Ngoài ra, để bảo vệ những cây có bóng mát ở các khu vực sinh hoạt chung, người dân thường tôn cây đó làm thần cây đa, ma cây gạo,…Thảm thực vật chính ở các vùng đất ruộng là các loại cây cỏ, ở ven biển là rừng ngập mặn như sú vẹt,…Nhưng có một đặc điểm chung của thảm thực vật châu thổ sông Hồng chủ yếu là thảo mộc, ít cây đại thụ.
Điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, bão, lũ lụt xảy ra thường xuyên là yếu tố để người dân trong vùng lựa chọn các loại cây ngắn ngày, mang tính chất mùa vụ để đáp ứng nhu cầu sản xuất và nhu cầu sinh tồn của mình. Cây lúa, ngô, các loại đỗ, đậu,. chính là sản phẩm của quá trình sản xuất thích ứng với điều kiện tự nhiên. Hay nói cách khác, loại hình sản xuất và phương thức sản xuất của người dân châu thổ sông Hồng đã là yếu tố quan trọng trong việc hình thành văn hóa tiểu nông, văn hóa thảo mộc.
Ngoài ra, để chống chọi với tự nhiên và thích ứng với tự nhiên, cây tre chính là sự lựa chọn tốt nhất của người dân trong vùng. Tre với đặc tính thân dẻo, rễ chắc, mọc thành lũy, thành rào,. là cây trồng lý tưởng để đối phó với bão, lũ hàng năm. Nếu như ở Nga, người dân có cây sồi (cây lớn) để làm nhà thì ở Việt Nam, hình ảnh những ngôi nhà tre đã trở thành một biểu tượng đặc trưng cho châu thổ sông Hồng.
Điều kiện tự nhiên không chỉ ảnh hưởng tới sự phân bố thảm thực vật, mà nó còn ảnh hưởng rất lớn đến loại hình chăn nuôi của nhân dân. Văn hóa nước là điều kiện tiên quyết để hình thành văn hóa tiểu nông, trong đó có chăn nuôi. Không những cây trồng mang tính mùa vụ mà loại hình chăn nuôi trong vùng cũng vậy. 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Lợn, gà, vịt,…là gia súc, gia cầm chính của người dân trong vùng bởi tính chất ngắn hạn trong thời gian phát triển của chúng.
Ở châu thổ sông Hồng ít thấy những đàn dê, đàn bò mang tính chất quy mô, câu nói “con trâu là đầu cơ nghiệp” là một minh chứng.1 Cơ tầng xã hội thời phong kiến Trong quá trình hình thành và phát triển chế độ phong kiến, các công xã nông thôn dần bị phong kiến hóa và trở thành các đơn vị hành chính cơ sở của chính quyền phong kiến. Theo đó, theo sách “Đại Việt sử ký toàn thư” ghi chép, dưới thời Văn Lang, nhà nước được chia thành 14 bộ theo hệ thống ba cấp là Trung Ương – Bộ (bộ lạc) – công xã nông thôn. Công xã nông thôn là những đơn vị dân cư liên kết với nhau bởi quan hệ huyết thống và quan hệ láng giềng, trong đó quan hệ láng giềng là chủ yếu. Đứng đầu công xã là Bồ chính (già làng).
Bên cạnh Bồ chính là hội đồng các thành viên được cử ra để tổ chức mọi hoạt động của công xã. Thời Bắc thuộc kéo dài hơn 1000 năm, xâm chiếm và đô hộ, biến nước Âu Lạc thành châu quận. Năm 905, nhân cơ hội nhà Đường suy yếu, Khúc Thừa Dụ là một hào trưởng, được nhân dân ủng hộ đã tự xưng làm Tiết độ sứ, giành được quyền làm chủ đất nước. Năm 907, Khúc Thừa Dụ mất, con ông Khúc Hạo nối nghiệp cha, tiến hành một số cải cách quan trọng: Đổi “hương” làm “giáp”, lập thêm 150 giáp, nâng tổng số giáp lên 314 và đặt mỗi giáp một quản giáp và một phó tri giáp.
Đồng thời chia cả nước thành các đơn vị hành chính lệ thuộc từ lớn đến nhỏ là lộ, phủ, châu, giáp, xã: đặt ra các chức Chánh lệnh trưởng, Tá lệnh trưởng để trông coi các xã; lại định ra hộ tịch, lập sổ khai hộ khẩu kê rõ họ, tên, quê quán. Năm 938, Ngô Quyền đánh bại quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng, chấm dứt hơn 1000 năm Bắc thuộc. Hệ thống các đơn vị hành chính thời Ngô vẫn như thời kỳ họ Khúc nắm quyền cai trị. Nhà Đinh lập hệ thống quản lý hành chính gồm 4 cấp: Triều đình (cấp trung ương), đạo (thay cho lộ), phủ - châu và cấp cơ sở gồm giáp, xã.
Nhà Tiền Lê vẫn giữ nguyên cho các đơn vị hành chính như thời Đinh, đến 19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com năm Ứng Thiên thứ 9 (1002) mới đổi 10 đạo làm 10 lộ, cấp dưới có phủ, châu, giáp, xã. Vào thời Lý, chia nước làm 24 lộ. Tên thôn mới xuất hiện với tư cách là một đơn vị tụ cư dưới hương ấp, có nghĩa là thôn cũng được coi như là làng hay ít nhất cũng là đơn vị tụ cư tương đương với làng. Nhà Trần sắp đặt lại các đơn vị hành chính địa phương gồm 3 cấp: phủ lộ, huyện châu, hương xã.
Thời kỳ đầu nhà Trần đổi 24 lộ thời Lý làm 12 lộ. Năm 1242, Trần Thái Tông tiến hành phân chia thành các xã lớn, xã nhỏ và đặc các chức đại tư xã, tiểu tư xã là các quan thay mặt Nhà nước quản lý từ một đến bốn xã. Nhà Hồ chia nước làm lộ và trấn thống hạt phủ, phủ thống hạt châu, châu thống hạt huyện, huyện thống hạt xã. Sau khi đánh đuổi được quân Minh, khôi phục độc lập, Lê Lợi chia cả nước làm 5 đạo: Nam đạo, Bắc đạo, Đông đạo, Tây đạo, Hải đạo và chia các lộ, trấn, phủ, châu, huyện lệ thuộc vào các đạo và tiến hành tổ chức lại làng xã.
Đến năm 1446, Lê Thánh Tông tiến hành cải cách lại bộ máy quản lý hành chính, đổi chức xã quan (quản lí xã) thành xã trưởng. Gia đình là tế bào của xã hội, là đơn vị sản xuất cơ bản nhất trong nền kinh tế tiểu nông và tổ chức quản lý làng xã đều theo đơn vị hộ gia đình.2 Cơ tầng xã hội Việt Nam hiện nay Năm 1980, Việt Nam có Hiến pháp mới. Tại đây quy định rằng: Các đơn vị hành chính của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam được phân định như sau: Nước chia thành tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và đơn vị hành chính tương đương. Tỉnh chia thành huyện, thành phố thuộc tỉnh và thị xã; thành phố trực thuộc Trung ương chia thành quận, huyện và thị xã.
Huyện chia thành xã và thị trấn; thành phố thuộc tỉnh, thị xã chia thành phường và xã; quận chia thành phường.3 Cấu trúc sản xuất Việt Nam nói chung và khu vực châu thổ sông Hồng nói riêng nằm trọn trong vùng khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa với một nền khí hậu khắc nghiệt nóng ẩm mưa nhiều nên đời sống sinh hoạt cũng như hoạt động sản xuất của người dân chủ 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com yếu phụ thuộc vào tự nhiên, cụ thể hơn thì hoạt động khai thác tự nhiên chính là điểm nổi bật trong cấu trúc sản xuất của vùng. Một trong những trung tâm nông nghiệp sớm nhất của loài người là khu vực Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam. Từ cuối thời kỳ đá mới, cách ngày nay khoảng 6000 năm, con người đã bắt đầu tiến vào giai đoạn trồng lúa nước.