Mở đầu cuốn “Văn o dân tộc Mông Hà Giang”, Trường Lưu và Hùng Đình Qu có cho rằng “… nó đến văn óa Mông ở Hà Giang, không ai không biết đến tiếng k èn vơ âm t an trầm trầm dìu dặt, vớ c c làn đ ệu dân ca trữ tình, duyên dáng và hồn n ên…” [45, tr. Trong đời sống văn hoá tinh thần của đại bộ phận người Mông, khèn được coi là “nhạc cụ đặc trưng văn óa t êu b ểu…” [45, tr. Cũng trong cuốn sách này, ở một phần khác tác giả có cho rằng khèn thuộc nhóm dụng cụ sinh hoạt tinh thần của người Mông và đây “là nhạc cụ được dùng phổ biến nhất ở vùng người Mông. Có lẽ không một chàng trai Mông nào lại không làm quen với cây k èn.
K èn được dùng trong tang lễ và trong sinh hoạt vu c ơ múa t” [45, tr. Thêm vào đó, cùng với việc giới thiệu một cách sơ ược đặc điểm của các loại nhạc cụ khác, tác giả cũng đã đề cập đến cấu tạo cơ bản của khèn Mông và nhấn mạnh: “Tiếng khèn biểu đạt các bài dân ca Mông rất s ng động, chính thế nó làm đắm say lòng người” [45, tr. Nhìn chung, công trình nghiên cứu đã đề cập đến cây khèn ở nhiều phương diện khác nhau nhưng về cơ bản mới chỉ dừng ở việc nêu ra những khía cạnh cơ bản nhất về giá trị, vai trò và cấu tạo của cây khèn trong đời sống văn hoá của người Mông. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Trong bài viết “Một s biểu tượng văn óa dân g an Hmông” trên Tạp chí văn học nghệ thuật Lào Cai, TS. Trần Hữu Sơn đã dựa trên những kiến thức về văn hóa, phong tục tập quán để giải mã một số biểu tượng trong văn hóa, dân ca Mông: cây tre, cây lanh, con gà, con lợn. Với những tri thức, trải nghiệm được tích ũy nhờ sự gắn bó mật thiết với đời sống văn hóa của đồng bào Mông, tác giả cho rằng lễ hội Gầu Tào: “… tíc ợp nhiều yếu t văn o , t p hợp một s biểu tượng nổi trội mang đ m sắc t văn o Hmông n ư b ểu tượng cây tre (mai, vầu), biểu tượng mảnh vải lanh, quả bầu đựng rượu, cây khèn. Các biểu tượng này nhằm phản n tín ngưỡng cổ truyền cũng n ư ước vọng của cộng đồng” [50].
Tuy đã nhắc đến cây khèn với tư cách à một biểu tượng trong dân ca Mông nhưng trong bài viết của mình, tác giả chưa tiến hành giải mã nghĩa của biểu tượng này. Nhà nghiên cứu âm nhạc Hồng Thao trong cuốn “Âm nhạc dân tộc H’mông” đã đề cập đến những bài hát và nhạc cụ độc đáo của dân tộc Mông cũng như những điệu hát, những nhạc cụ đã được dân tộc Mông “tự giác tiếp thu” của những dân tộc khác. Trong số những nhạc cụ đã được đề cập, tác giả cho rằng: “Những chàng trai Mông va đeo gù , tay cầm khèn, tay cầm lồng chim là hình ản đ ển hình trên rẻo cao…” [58, tr. Ngoài ra, trong cuốn sách này, tác giả cũng đề cập tới âm vực của cây khèn, qua đó nói ên tầm quan trọng của khèn trong nghi lễ tang ma của người Mông: “…Riêng trong nghi lễ tang ma […] mỗ trường hợp, mỗi cách chết phả được thổi bằng những bài khèn riêng” [58, tr.
Tuy nhiên, mục tiêu chính của công trình chủ yếu hướng tới việc sưu tầm, ghi chép những bài khèn Mông dưới dạng các bài nhạc nên tác giả không khai phá những tầng nghĩa sâu của biểu tượng khèn. Những nhận định sơ ược và có phần gián đoạn về cây khèn trong dân ca Mông mà tác giả đã đề cập, thực chất là những phương diện thuộc về ý nghĩa, tầm quan trọng của biểu tượng này trong đời sống của người Mông. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Trong lời tựa cho cuốn “Dân ca H’mông”, Chế Lan Viên có nhắc tới cây khèn và nhấn mạnh đây à một loại nhạc cụ phổ biến đối với người Mông: “Người Mông rất yêu nền văn ng ệ của mình, tiếng hát của mình.
Phần đông người Mông đều biết một trong ba loại nhạc cụ này: sáo, khèn, đàn mô …” [57, tr. Do chỉ là những lời giới thiệu về cả tập dân ca nên trong hơn hai mươi trang viết, tác giả chỉ duy nhất một lần nhắc đến khèn với tư cách à một nhạc cụ của người Mông, chưa có những kiến giải về mặt ý nghĩa biểu trưng của biểu tượng này. Ngoài ra, biểu tượng khèn cũng được đề cập tới với những mức độ khác nhau trong những luận văn, uận án mà chúng tôi có điều kiện khảo sát. Có thể kể đến như: 2.
Vũ Hồng Cường trong luận văn thạc sĩ Văn học Việt Nam “Tiếng hát tình yêu lứa đô trong dân ca H’mông Hà G ang” ít nhiều cũng đã có những nhận định về biểu tượng khèn trong đời sống văn hóa, tâm inh của đồng bào Mông. Trong luận văn này, tác giả tập trung phân tích những nội dung và nghệ thuật cơ bản của Tiếng hát tình yêu đôi ứa trong dân ca Mông Hà Giang. Tuy nhiên, bên cạnh đó, tác giả cũng đã có một phần rất nhỏ đề cập đến biểu tượng. Trong đó, tác giả có cho rằng, biểu tuợng đàn môi à một biểu tuợng đặc trưng cho tình yêu đôi ứa.
Ngược lại, tác giả cho rằng “thực tế, trong quá khứ của nguờ H’mông ở Hà Giang chỉ dùng k èn để thổi và múa trong những nghi lễ tang ma, thờ cúng” [3, tr. Vương Thị Thủy trong luận văn thạc sĩ Khoa học Ngữ văn “Dân ca nghi lễ cúng trong chu kỳ vòng đời của nguời Mông ở Mèo Vạc, Hà Giang” đã có những kiến giải tương đối chi tiết về nghĩa chủ đạo của biểu tuợng khèn. Luận văn đã trình bày được những nội dung cơ bản của dân ca nghi lễ cúng trong chu kỳ vòng đời của nguời Mông cũng như các phương thức diễn xướng của các bài dân ca này. Trong chương 3, tác giả có đề cập đến việc 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nghiên cứu biểu tượng trong một mục nhỏ với các biểu tượng như: biểu tượng lanh, biểu tượng khèn và biểu tượng con gà.
Trong đó, khi viết về biểu tượng khèn, tác giả có cho rằng: “Tiếng k èn tượng trưng c o lời chàng trai, lúc nhẹ nhàng tha thiết, khi sôi nổi mãnh liệt, tiếng khèn giữ chức năng n ư một tín hiệu tình yêu của đô tra g Mông, d ễn tả mọi cung b c cảm xúc của tâm hồn, không chỉ là xứ giả âm thanh của tình yêu mà còn là cầu n i hai tâm hồn đồng đ ệu giữa núi rừng rộng lớn” [68, tr. Bên cạnh đó, tác giả còn khẳng định cả vai trò của biểu tượng khèn trong nghi lễ tang ma của người Mông: “Trong c c đ m tang, dù c ỉ là đ m ma k ô ay ma tưo t cây k èn là một nhạc cụ không thể thiếu để tiễn đưa ồn người chết về thế giới bên kia, tiếng khèn tang ma còn mang xứ mệnh thiêng liêng là nhắc người Mông nhớ tới nguồn dòng tộc” [68, tr. Từ những phân tích khá chi tiết và những dẫn chứng tiêu biểu, cuối cùng tác giả nhấn mạnh rằng: “… cây k èn trở thành biểu tượng đặc sắc của tâm hồn, tình cảm và dấu ấn sắc tộc của người Mông” [68, tr. Với những nhận định, kiến giải có tính chất gợi mở về biểu tượng khèn, uận văn của tác giả Vương Thị Thủy được coi à một trong những tư iệu tham khảo có giá trị, gắn với xu hướng tiệm cận văn hóa truyền thống trong đời sống, đặc biệt à đời sống tinh thần của đồng bào Mông.
Trần Duy Hưng trong uận văn Thạc sĩ Văn học Việt Nam “Biểu tượng trong dân ca nghi lễ tang ma của người Mông ở Hà Giang” cũng đã có những kiến giải khá cụ thể về biểu tượng khèn trong đời sống văn hóa của đồng bào Mông. Trước hết, tác giả đã khái quát được cấu tạo của khèn và những nghi lễ iên quan đến việc sử dụng khèn, bao gồm nghi lễ àm ma tươi và nghi lễ làm ma khô. Qua đó, tác giả cũng nhấn mạnh: “dù là tục lệ gì n ưng k có người chết thì khèn luôn gắn bó m t thiết với nghi lễ và truyền tải những t ông đ ệp quan trọng tớ người chết” [21, tr. Trong chương 2 của luận văn, tác giả đã tiến hành khảo sát và giải mã một số biểu tượng trong 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com dân ca nghi lễ tang ma của người Mông như: biểu tuợng “gầu khèn đrâu trống” và “hoa khèn, hoa mưa, hoa nắng, hoa trống”.
Tuy có những luận giải khác nhau nhưng về cơ bản, tác giả đã nhấn mạnh đến đặc điểm giới tính trong những biểu tượng này. Từ những kiến giải, phân tích và những dẫn chứng tiêu biểu, tác giả khẳng định: “Từ hệ th ng những biểu tượng luôn đ song àn cùng n au và đều là những biểu tượng có đầy đủ cả hai giới nam và nữ trong cùng một tên gọi, chúng ta có thể nh n thấy tư tuởng tiến bộ, dân chủ man n a trong văn óa Mông” [21, tr. Hoàng Thị Thủy trong luận án Tiến sĩ Văn học Việt Nam “Dân ca nghi lễ dân tộc H’Mông” cũng đã đề cập đến biểu tượng khèn, tuy mới ở mức độ rất sơ ược. Trong chuơng 4 – một số phương diện nghệ thuật trong dân ca nghi lễ dân tộc Mông, tác giả đã àm rõ những nét cơ bản nhất về khái niệm biểu tượng.
Từ đó, tác giả đi đến giải mã nghĩa của một số biểu tượng trong dân ca Mông như biểu tượng con gà, biểu tượng lanh. Khi nhắc tới khèn trong đời sống văn hóa nói chung, nghi ễ tang ma nói riêng, tác giả nhấn mạnh: “Trong việc thực hiện các nghi lễ, vai trò của khèn, tr ng hết sức cần thiết […]. Từ lúc bắt đầu đ m ma c o đến k người chết đ c ôn, ầu n ư k ông bao giờ vắng tiếng khèn, tr ng. Các bài khèn này có nộ dung và được thể hiện phù hợp với từng nghi thức của tang lễ” [67, tr.
Với một cái nhìn tương đối bao quát, tác giả cho rằng: “Văn ọc dân gian dân tộc Mông phong phú với nhiều thể loạ mang đ m bản sắc văn óa rất riêng của đồng bào, trong đó mảng dân ca nghi lễ xuất hiện nhiều hệ th ng biểu tượng đặc thù n ư b ểu tượng về hệ th ng loài v t, biểu tượng về hệ th ng đồ v t, biểu tượng về hệ th ng cây c i, con s …” [67, tr.