Biểu Thức Chiếu Vật Chứa Trăng Trong Ngôn Ngữ Thơ Nguyễn Bính Trước Cách Mạng

Chuyên khảo phân tích Biểu thức chiếu vật chứa trăng trong ngôn ngữ thơ nguyễn bính trước cách mạng, đánh giá các khía cạnh quan trọng, đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo.

Trường đại học

Đại học Đà Nẵng

Chuyên ngành

Sư phạm Ngữ văn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Đề cương khóa luận tốt nghiệp

2022

84
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN

1.1. Lý thuyết chiếu vật

1.1.1. Sự chiếu vật

1.2. Biểu thức chiếu vật

1.2.1. Khái niệm biểu thức chiếu vật

1.3. Lý thuyết hoạt động giao tiếp

1.4. Các nhân tố của hoạt động giao tiếp

1.5. Các nhân tố giao tiếp và chiếu vật

1.6. Ngữ cảnh, tình huống giao tiếp

1.7. Ngôn ngữ nghệ thuật

1.7.1. Các đặc trưng của ngôn ngữ thơ

1.7.2. Ngôn ngữ thơ dưới góc nhìn của phong cách học

1.7.3. Ngôn ngữ thơ dưới góc nhìn nghiên cứu văn học

1.8. Giới thiệu về Nguyễn Bính và thơ Nguyễn Bính trước Cách mạng

1.8.1. Tác giả Nguyễn Bính

1.8.2. Thơ Nguyễn Bính trước Cách mạng

1.9. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: CÁC BIỂU THỨC CHIẾU VẬT CHỨA TRĂNG TRONG NGÔN NGỮ THƠ NGUYỄN BÍNH TRƯỚC CÁCH MẠNG NHÌN TỪ BÌNH DIỆN CÁI BIỂU ĐẠT

2.1. Các biểu thức chiếu vật chứa trăng trong ngôn ngữ thơ Nguyễn Bính trước Cách mạng xét trên phương diện cấu trúc

2.2. Các biểu thức chiếu vật chứa trăng trong ngôn ngữ thơ Nguyễn Bính trước Cách mạng là danh từ

2.3. Các biểu thức chiếu vật chứa trăng trong ngôn ngữ thơ Nguyễn Bính trước Cách mạng có cấu tạo là ngữ danh từ

2.4. Quan hệ kết hợp của các biểu thức chiếu vật chứa trăng trong ngôn ngữ thơ Nguyễn Bính

2.4.1. Về trường hợp quan hệ kết hợp trong cụm từ

2.4.2. Về trường hợp quan hệ kết hợp trong câu

2.5. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: CÁC BIỂU THỨC CHIẾU VẬT CHỨA TRĂNG TRONG NGÔN NGỮ THƠ NGUYỄN BÍNH TRƯỚC CÁCH MẠNG NHÌN TỪ BÌNH DIỆN CÁI ĐƯỢC BIỂU ĐẠT

3.1. Nội dung biểu đạt của các biểu thức chiếu vật có chứa “trăng” trong ngôn ngữ thơ Nguyễn Bính trước Cách mạng

3.2. Chiếu vật về các biểu thức chứa “trăng” trong ngôn ngữ thơ Nguyễn Bính trước Cách mạng trong hệ quy chiếu thế giới tự nhiên

3.3. Chiếu vật về các biểu thức chứa “trăng” trong ngôn ngữ thơ Nguyễn Bính trước Cách mạng trong hệ quy chiếu thế giới con người

3.4. Chiếu vật về các biểu thức chứa “trăng” trong ngôn ngữ thơ Nguyễn Bính trước Cách mạng trong hệ quy chiếu thời gian và không gian

3.5. Giá trị biểu đạt của các biểu thức chiếu vật có chứa “trăng” trong ngôn ngữ thơ Nguyễn Bính trước Cách mạng

3.5.1. Giá trị biểu đạt của các biểu thức chiếu vật có chứa “trăng” trong ngôn ngữ thơ Nguyễn Bính trước Cách mạng về mặt nội dung hình tượng

3.5.2. Giá trị biểu đạt của các biểu thức chiếu vật có chứa “trăng” trong ngôn ngữ thơ Nguyễn Bính trước Cách mạng về phương diện cá tính sáng tạo

3.6. Tiểu kết chương 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới Thiệu Biểu Thức Chiếu Vật Chứa Trăng Thơ Nguyễn Bính

Thơ Nguyễn Bính trước Cách mạng là một kho tàng nghệ thuật độc đáo, đậm đà bản sắc dân tộc. Trong đó, hình ảnh trăng đóng vai trò quan trọng, xuất hiện xuyên suốt các tác phẩm và mang nhiều tầng ý nghĩa khác nhau. Nghiên cứu biểu thức chiếu vật chứa trăng trong thơ Nguyễn Bính không chỉ giúp hiểu sâu hơn về phong cách thơ của ông mà còn khám phá những giá trị văn hóa, tư tưởng được gửi gắm qua hình tượng này. Đề tài này có ý nghĩa quan trọng trong việc nghiên cứu về thơ ca lãng mạn Việt Namvăn học Việt Nam giai đoạn 1930-1945.

1.1. Tổng quan về biểu thức chiếu vật trong ngôn ngữ học

Trong ngữ dụng học, biểu thức chiếu vật đóng vai trò như một “cái neo” liên kết ngôn ngữ với ngữ cảnh, giúp người đọc giải mã ý nghĩa của văn bản. Biểu thức chiếu vật là những hình thức ngôn ngữ (từ, cụm từ, câu) được người nói, người viết sử dụng để chỉ đến một đối tượng cụ thể trong thế giới thực hoặc thế giới nghệ thuật. Việc nghiên cứu biểu thức chiếu vật giúp chúng ta hiểu rõ hơn cách thức ngôn ngữ hoạt động trong giao tiếp và cách người sử dụng ngôn ngữ tạo ra ý nghĩa. Đỗ Hữu Châu cho rằng "kết cấu ngôn từ dùng để chiếu vật được gọi là biểu thức chiếu vật".

1.2. Vị trí của hình ảnh trăng trong sự nghiệp thơ Nguyễn Bính

Nguyễn Bính là một trong những nhà thơ tiêu biểu của phong trào Thơ Mới. Ông nổi tiếng với những vần thơ giản dị, mộc mạc, đậm chất quê hương. Hình ảnh thôn quê và những biểu tượng quen thuộc của làng quê Việt Nam, trong đó có trăng, thường xuyên xuất hiện trong thơ ông. Việc sử dụng hình ảnh trăng một cách sáng tạo và độc đáo đã góp phần tạo nên phong cách thơ riêng biệt của Nguyễn Bính. Hoài Thanh từng nhận xét, "Người nhà quê của Nguyễn Bính vẫn ngang nhiên sống như thường".

II. Thách Thức Phân Tích Biểu Tượng Trăng Trong Thơ Nguyễn Bính

Việc phân tích biểu tượng trăng trong thơ Nguyễn Bính gặp nhiều thách thức do tính đa nghĩa, đa tầng của hình ảnh này. Ý nghĩa trăng trong thơ Nguyễn Bính không chỉ giới hạn ở việc miêu tả cảnh vật thiên nhiên mà còn mang ý nghĩa biểu tượng về tình yêu, nỗi buồn, sự cô đơn và quê hương. Để giải mã chính xác những ý nghĩa này, cần phải đặt hình ảnh trăng trong mối quan hệ với các yếu tố khác của bài thơ và trong bối cảnh văn hóa, xã hội đương thời. Đặc biệt, các tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Bính cũng có những biến thể riêng về hình tượng trăng.

2.1. Sự đa dạng trong biểu đạt hình ảnh trăng

Hình ảnh trăng trong thơ Nguyễn Bính được biểu đạt qua nhiều hình thức khác nhau, từ những miêu tả trực tiếp về hình dáng, màu sắc của trăng đến những liên tưởng, so sánh, ẩn dụ mang tính tượng trưng. Sự đa dạng này đòi hỏi người đọc phải có khả năng cảm thụ tinh tế và kiến thức sâu rộng về văn học, văn hóa để có thể hiểu được hết ý nghĩa của hình ảnh trăng. Điều này phản ánh phong cách thơ Nguyễn Bính đa dạng.

2.2. Yếu tố văn hóa ảnh hưởng đến ý nghĩa biểu tượng trăng

Ý nghĩa biểu tượng của trăng trong văn hóa Việt Nam nói chung và trong thơ Nguyễn Bính nói riêng chịu ảnh hưởng sâu sắc từ các yếu tố văn hóa, tín ngưỡng, phong tục tập quán. Trăng thường được coi là biểu tượng của sự viên mãn, sum vầy, tình yêu đôi lứa, nhưng cũng có thể là biểu tượng của sự cô đơn, chia ly. Vì vậy, việc phân tích ý nghĩa của hình ảnh trăng cần phải xem xét đến bối cảnh văn hóa cụ thể. Chất quê trong thơ Nguyễn Bính là một yếu tố quan trọng cần xem xét.

III. Giải Mã Biểu Thức Chiếu Vật Trăng Phương Pháp Tiếp Cận

Để phân tích biểu thức chiếu vật chứa trăng trong thơ Nguyễn Bính một cách hiệu quả, cần áp dụng phương pháp kết hợp giữa ngôn ngữ học và văn học. Cần xác định rõ các biểu thức ngôn ngữ được sử dụng để chỉ đến hình ảnh trăng, sau đó phân tích ý nghĩa của chúng trong ngữ cảnh cụ thể của bài thơ. Đồng thời, cần xem xét đến mối quan hệ giữa hình ảnh trăng với các yếu tố khác của bài thơ, như nhân vật trữ tình, không gian, thời gian, để hiểu được thông điệp mà nhà thơ muốn gửi gắm. Các bài thơ hay của Nguyễn Bính thường thể hiện rõ điều này.

3.1. Phân tích cấu trúc ngôn ngữ của biểu thức chiếu vật

Phân tích cấu trúc ngôn ngữ của biểu thức chiếu vật bao gồm việc xác định từ loại, cấu tạo ngữ pháp và mối quan hệ ngữ nghĩa của các thành phần trong biểu thức. Ví dụ, cụm từ “vầng trăng khuyết” có cấu trúc ngữ danh từ, trong đó “vầng” là danh từ chỉ đơn vị, “trăng” là danh từ chỉ đối tượng được miêu tả, và “khuyết” là tính từ chỉ trạng thái của trăng. Phân tích cấu trúc ngôn ngữ giúp hiểu rõ hơn cách nhà thơ sử dụng ngôn ngữ để tạo ra hình ảnh trăng. Đồng thời cũng giúp hiểu thêm về bút pháp tả cảnh trong thơ Nguyễn Bính.

3.2. Đặt biểu thức chiếu vật trong ngữ cảnh cụ thể

Việc đặt biểu thức chiếu vật trong ngữ cảnh cụ thể là vô cùng quan trọng để giải mã chính xác ý nghĩa của nó. Ngữ cảnh ở đây bao gồm ngữ cảnh ngôn ngữ (các từ ngữ xung quanh biểu thức) và ngữ cảnh văn hóa (bối cảnh xã hội, lịch sử, văn hóa). Ví dụ, hình ảnh trăng trong một bài thơ viết về tình yêu có thể mang ý nghĩa khác so với hình ảnh trăng trong một bài thơ viết về quê hương. Cần hiểu rõ tâm trạng nhân vật trữ tình trong thơ để hiểu đúng hơn.

IV. Ứng Dụng Phân Tích Biểu Tượng Trăng và Tình Yêu Nguyễn Bính

Một trong những chủ đề nổi bật trong thơ Nguyễn Bính là tình yêu. Hình ảnh trăng thường được sử dụng để diễn tả những cung bậc cảm xúc khác nhau của tình yêu, từ sự lãng mạn, say đắm đến sự cô đơn, chia ly. Trăng có thể là chứng nhân cho những cuộc hẹn hò, là người bạn đồng hành trong những đêm nhớ nhung, hoặc là biểu tượng cho sự xa cách, mất mát. Điều này thể hiện rõ trong nhiều phân tích thơ Nguyễn Bính.

4.1. Trăng là chứng nhân cho tình yêu đôi lứa

Trong nhiều bài thơ của Nguyễn Bính, trăng xuất hiện như một chứng nhân thầm lặng cho những cuộc hẹn hò bí mật, những lời tỏ tình e ấp của đôi lứa. Ánh trăng dịu dàng, lãng mạn tạo nên không gian lý tưởng cho tình yêu nảy nở. Ví dụ, trong bài thơ “Lỡ Bước Sang Ngang”, hình ảnh trăng gắn liền với kỷ niệm tình yêu của nhân vật trữ tình: “Đêm qua trăng sáng trên cầu…”. Trăng và tình yêu là một mối liên kết chặt chẽ.

4.2. Trăng và nỗi cô đơn trong tình yêu

Bên cạnh niềm vui, hạnh phúc, trăng cũng thường được sử dụng để diễn tả nỗi cô đơn, buồn bã trong tình yêu. Khi tình yêu tan vỡ, hoặc khi phải xa cách người yêu, ánh trăng dường như trở nên lạnh lẽo, cô đơn hơn bao giờ hết. Hình ảnh trăng lẻ loi giữa bầu trời đêm gợi lên cảm giác trống trải, hụt hẫng trong lòng người. Trăng và nỗi cô đơn là hai trạng thái thường đi liền với nhau trong thơ.

V. Kết Luận Giá Trị Biểu Thức Trăng Trong Thơ Nguyễn Bính

Nghiên cứu biểu thức chiếu vật chứa trăng trong thơ Nguyễn Bính trước Cách mạng đã cho thấy vai trò quan trọng của hình ảnh này trong việc thể hiện tư tưởng, cảm xúc của nhà thơ. Trăng không chỉ là một yếu tố thiên nhiên đơn thuần mà còn là một biểu tượng văn hóa, một phương tiện nghệ thuật độc đáo, góp phần tạo nên phong cách thơ riêng biệt của Nguyễn Bính. Nghiên cứu này mở ra hướng tiếp cận mới trong việc phân tích thơ Nguyễn Bính và các tác phẩm văn học khác.

5.1. Khẳng định giá trị biểu tượng nghệ thuật của trăng

Qua việc phân tích các biểu thức chiếu vật, ta thấy rằng hình ảnh trăng trong thơ Nguyễn Bính mang giá trị biểu tượng nghệ thuật sâu sắc. Nó không chỉ đơn thuần là một yếu tố miêu tả cảnh vật mà còn là phương tiện để nhà thơ thể hiện những cảm xúc, suy tư về cuộc đời, về tình yêu, về quê hương. Hình ảnh trăng trong thơ Nguyễn Bính đã vượt ra khỏi giới hạn của một đối tượng vật chất để trở thành một biểu tượng mang ý nghĩa tinh thần.

5.2. Gợi mở hướng nghiên cứu tiếp theo về thơ Nguyễn Bính

Nghiên cứu này chỉ là một bước khởi đầu trong việc khám phá thế giới nghệ thuật phong phú của Nguyễn Bính. Hy vọng rằng, nó sẽ gợi mở những hướng nghiên cứu tiếp theo, như nghiên cứu về các biểu tượng khác trong thơ Nguyễn Bính, hoặc nghiên cứu về ảnh hưởng của văn hóa dân gian đối với thơ ông. Việc nghiên cứu sâu hơn về sự nghiệp thơ Nguyễn Bính sẽ góp phần khẳng định vị trí xứng đáng của ông trong nền văn học Việt Nam.

24/05/2025
Biểu thức chiếu vật chứa trăng trong ngôn ngữ thơ nguyễn bính trước cách mạng

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN 1. Lý thuyết chiếu vật 1. Sự chiếu vật Bàn về thuật ngữ chiếu vật, theo các nhà nghiên cứu đều thống nhất trong việc nhìn nhận khái niệm này tồn tại với tư cách là một bình diện quan trọng của Ngữ dụng học.

Có rất nhiều tên gọi cũng như các diễn đạt khác nhau về lí thuyết này. Thuật ngữ này được dịch từ tiếng Anh là “reference”, tiếng Pháp là “référence”. Khái niệm về sự chiếu vật được Đỗ Hữu Châu trình bày như sau: “Quan hệ giữa phát ngôn (diễn ngôn) với các bộ phận tạo nên ngữ cảnh của nó được gọi là sự chiếu vật (reference, référence, cũng được gọi là sự sở chỉ)…Chiếu vật là hiện tượng ngữ dụng học đầu tiên bởi vì nhờ chiếu vật mà ngôn ngữ gắn với ngữ cảnh, từ đó mà có căn cứ đầu tiên để xác định nghĩa của đơn vị ngôn ngữ đang thực hiện chức năng giao tiếp. Trong khi đó, Nguyễn Thiện Giáp gọi đó là quy chiếu: “Thuật ngữ quy chiếu (reference) được các nhà ngôn ngữ học dùng để chỉ mối quan hệ giữa các yếu tố ngôn ngữ với các sự vật, biến cố, hành động và tính chất mà chúng thay thế.

Quy chiếu là dấu hiệu đầu tiên thể hiện quan hệ giữa hoàn cảnh giao tiếp với diễn ngôn” [10, tr. Green, khái niệm về sự chiếu vật được định nghĩa như sau: “Thuật ngữ chiếu vật (reference) được dùng để chỉ phương tiện, nhờ đó người nói phát ra một biểu thức ngôn ngữ, với biểu thức này nghĩ rằng nó sẽ giúp cho người nghe suy ra được một cách đúng đắn thực thể nào, đặc tính nào, quan hệ nào, sự kiện nào anh ta định nói đến” [5, tr. Một điều cần lưu ý, tự thân các từ không quy chiếu đến cái gì cả mà chỉ có con người mới là chủ thể thực hiện điều đó. Vì thế, George Yule đã định nghĩa: “Sự quy chiếu là một hành động trong đó người nói (người viết) sử dụng các hình thái ngôn ngữ làm cho người nghe (người đọc) có thể nhận diện được cái mà mình có chủ đích đề cập đến” [28, tr.

Dựa trên cơ sở của một số khái niệm nêu trên, theo chúng tôi, chiếu vật là hiện tượng ngữ dụng học đầu tiên, thể hiện mối quan hệ giữa người phát ngôn (người sử dụng ngôn ngữ) với người nghe, người đọc thông qua biểu thức ngôn ngữ làm cầu nối 8 nhằm làm cho người tiếp nhận hiểu được ý nghĩa của đối tượng được nhắc đến trong một thế giới khả hữu (possible world) mà ở đó thực thể được quy chiếu tồn tại. Biểu thức chiếu vật 1. Khái niệm biểu thức chiếu vật Biểu thức chiếu vật (biểu thức quy chiếu) là khái niệm dùng để chỉ “những hình thức ngôn ngữ mà người nói/ người viết sử dụng để thực hiện quy chiếu trong ngữ cảnh cụ thể của ngữ liệu khảo sát” [12, tr. Trong cuốn “Cơ sở ngữ dụng học” (Tập 1), Đỗ Hữu Châu cho rằng: “Kết cấu ngôn từ (từ, cụm từ, câu) dùng để chiếu vật được gọi là biểu thức chiếu vật [5, tr.

Searle cho rằng: “bất cứ biểu thức nào được dùng để nhận biết một sự vật, một sự kiện, một quá trình, một hành động hoặc một cái gì đó có tính cá thể, riêng rẽ sẽ được tôi gọi là biểu thức chiếu vật” (trích theo Đỗ Hữu Châu [5, tr. Thuật ngữ biểu thức chiếu vật không đơn thuần để chỉ các tổ hợp ngôn từ mà cái chính là chỉ ra một điều gì đó cụ thể trong một ngữ cảnh cụ thể của hoạt động giao tiếp. Lựa chọn biểu thức quy chiếu nào là dựa trên cơ sở cái mà người nói cho rằng thuộc vốn hiểu biết của người nghe. Thế nên, dù biểu thức chiếu vật có cụ thể đến đâu cũng không làm cho người đọc, người nghe nhận biết ngay được sự vật quy chiếu.

Vì chỉ con người mới thực hiện được hành vi chiếu vật, đó không phải là việc tự thân của ngôn ngữ. Và biểu thức chiếu vật không phải bao giờ cũng chỉ có một nghĩa chiếu vật duy nhất mà có thể thay đổi nhiều nghĩa chiếu vật khác nhau tùy vào ngữ cảnh. Trong đề tài này, người viết sử dụng thuật ngữ “biểu thức chiếu vật” (Referring expression) dùng để chỉ phương tiện mà tác giả dùng để phát ra một biểu thức ngôn ngữ được thực hiện hành vi chiếu vật trong từng ngữ cảnh cụ thể của ngữ liệu khảo sát. Đề tài đồng ý với quan điểm của Đỗ Hữu Châu: “cũng như các tín hiệu ngôn ngữ khác, biểu thức chiếu vật có cái biểu đạt và cái được biểu đạt.

Cái biểu đạt của biểu thức chiếu vật là các đơn vị ngôn ngữ tạo nên nó. Còn cái được biểu đạt là sự vật được quy chiếu hay nghĩa chiếu vật tương ứng” [5, tr. Theo đó, trong khóa luận này, chúng tôi miêu tả đặc điểm đồng thời chỉ ra giá trị của các biểu thức chiếu vật chứa “trăng” trong thơ Nguyễn Bính trước Cách mạng trên hai bình diện: bình diện cái biểu đạt và bình diện cái được biểu đạt. Tiêu chí xác định biểu thức chiếu vật Trong bài báo “Ý nghĩa của các biểu thức chiếu vật chứa “trăng” trong Truyện Kiều của Nguyễn Du và trong thơ Xuân Diệu” [14], tác giả đã nhận diện yếu tố “trăng” và các biến thể của “trăng” như: “nguyệt”, “nga”, “thỏ”, “gương” là biểu thức chiếu vật.

Tuy nhiên, theo quan điểm của chúng tôi, đề tài chỉ xét các biểu thức chiếu vật có chứa từ “trăng”. Cụ thể, chúng tôi dựa vào một số tiêu chí xác định cơ bản sau đây để xác định biểu thức chiếu vật có chứa hình tượng “trăng” trong thơ Nguyễn Bính trước Cách mạng: a) Dựa vào hình thức: Mỗi biểu thức chiếu vật là một biểu thức ngôn ngữ, vì thế chúng có những đặc điểm như một biểu thức ngôn ngữ. Biểu thức chiếu vật tồn tại độc lập, có tính hoàn chỉnh về mặt cấu tạo: có thể tồn tại dưới dạng một từ hoặc một cụm từ. Nếu là một cụm từ, các biểu thức chiếu vật được xét là một cụm danh từ (ngữ danh từ).

b) Dựa vào ngữ cảnh giao tiếp (ngữ cảnh tình huống và ngữ cảnh văn hóa) mà ở đó biểu thức chiếu vật được sử dụng. Nghiên cứu biểu thức chiếu vật trong ngữ cảnh có thể phát hiện đặc điểm riêng của ý nghĩa mỗi biểu thức chiếu vật. c) Dựa vào ý nghĩa từ vựng của từ tạo nên biểu thức chiếu vật: Muốn hiểu được nghĩa của diễn ngôn, trước tiên phải xác định được nghĩa chiếu vật của các biểu thức chiếu vật trong diễn ngôn đó. Trong đó, cần phân biệt rõ nghĩa biểu vật và nghĩa chiếu vật.

Nghĩa biểu vật của từ “là sự phản ánh sự vật, hiện tượng… trong thực tế vào ngôn ngữ” chứ “không phải là sự vật hiện tượng… y như nó có thực trong thực tế. Chúng chỉ bắt nguồn từ đó mà thôi” [6, tr. Khi được quy chiếu bằng các biểu thức chiếu vật, nghĩa biểu vật có thể chuyển hóa thành nghĩa chiếu vật của các biểu thức chiếu vật đó. Nghĩa chiếu vật là phương diện đầu tiên của đặc trưng tính nhiều nghĩa trong tác phẩm văn học.

Nếu nghĩa biểu vật có tính ổn định, không phụ thuộc vào ngữ cảnh sử dụng thì nghĩa chiếu vật được xác định dựa vào thế giới khả hữu – hệ quy chiếu trong diễn ngôn. Lý thuyết hoạt động giao tiếp 1. Các nhân tố của hoạt động giao tiếp 1. Ngữ cảnh (situational context) Ngữ cảnh được hiểu là “bối cảnh ngoài ngôn ngữ của một phát ngôn hay là những thông tin ngoài ngôn ngữ góp phần tạo nên nghĩa (của phát ngôn)” [5, tr.

Các hợp phần của ngữ cảnh gồm: đối ngôn và hiện thực ngoài diễn ngôn. - Đối ngôn chỉ người tham gia vào một cuộc giao tiếp bằng việc sử dụng ngôn ngữ tạo ra các lời nói tương tác lẫn nhau. Để hoạt động giao tiếp được diễn ra, có ít nhất hai đối ngôn. Các đối ngôn có những đặc điểm về văn hóa, về vốn sống, về hoàn cảnh, về thói quen và đặc biệt là phải đồng nhất tri thức về đề tài được nói đến trong cuộc giao tiếp.

Giữa các đối ngôn này được xác lập dựa trên hai kiểu quan hệ chi phối giao tiếp cả hình thức lẫn nội dung, đó là quan hệ tương tác và quan hệ liên cá nhân. Mối quan hệ giữa các đối ngôn sẽ chi phối nội dung và hình thức diễn ngôn của nhân vật giao tiếp. - Hiện thực ngoài diễn ngôn là “tất cả những cái tạo thành môi trường cho một cuộc giao tiếp” [5, tr.106] loại trừ diễn ngôn, loại trừ các đối ngôn. Hay nói cách khác, “tất cả những yếu tố vật chất, xã hội, văn hóa… có tính cảm tính và những nội dung tinh thần tương ứng không được nói đến trong diễn ngôn của một cuộc giao tiếp” [7, tr.19] được gọi là hiện thực ngoài diễn ngôn.

Các nhân tố hợp thành hiện thực ngoài diễn ngôn gồm 4 bộ phận như sau: o Hiện thực – đề tài của diễn ngôn: Là “cái gì đó” được các đối ngôn “nói” đến khi giao tiếp, nói gọn là đề tài của diễn ngôn. Cái được nói tới “trước hết là những cái tồn tại, diễn tiến trong hiện thực ngoài ngôn ngữ và ngoài diễn ngôn” [7, tr.20] (những cái thuộc tâm giới của con người như cảm xúc, tư tưởng,. Cũng có khi hiện thực được nói tới là bản thân ngôn ngữ, “chính các cuộc giao tiếp, các diễn ngôn đã có hay đang được thực hiện” [4, tr. Như vậy, đề tài của diễn ngôn được chia thành hiện thực – đề tài ngoài diễn ngôn và hiện thực – đề tài trong diễn ngôn.

Đề tài của diễn ngôn không chỉ do người nói quyết định mà cần sự thỏa thuận của người nghe thì đối tượng để trao đổi mới trở thành hiện thực – đề tài của diễn ngôn. o Hoàn cảnh giao tiếp (Hoàn cảnh giao tiếp rộng): Là “tất cả những cái còn lại trong hiện thực ngoài ngôn ngữ làm nên hoàn cảnh giao tiếp rộng của cuộc giao 11 tiếp, của diễn ngôn” [7, tr.23], loại trừ thế giới khả hữu và hiện thực – đề tài. Hoàn cảnh giao tiếp “bao gồm tổng thể các nhân tố chính trị, địa lí, kinh tế, văn hóa, lịch sử với các tư tưởng, các chuẩn mực về đạo đức, ứng xử, với các thiết chế, các công trình, các tổ chức…” [5, tr.110-111] ở hiện trường giao tiếp. Trong đó, ta cần lưu ý đến: ngữ cảnh của người sáng tạo và o Thoại trường hay hiện trường giao tiếp (Hoàn cảnh giao tiếp hẹp): được hiểu là không gian, thời gian cụ thể mà ở đó cuộc giao tiếp diễn ra.

Không – thời gian thoại trường đòi hỏi người ta phải ứng xử, nói năng theo cách thức tương thích.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ