CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN 1. Lý thuyết chiếu vật 1. Sự chiếu vật Bàn về thuật ngữ chiếu vật, theo các nhà nghiên cứu đều thống nhất trong việc nhìn nhận khái niệm này tồn tại với tư cách là một bình diện quan trọng của Ngữ dụng học.
Có rất nhiều tên gọi cũng như các diễn đạt khác nhau về lí thuyết này. Thuật ngữ này được dịch từ tiếng Anh là “reference”, tiếng Pháp là “référence”. Khái niệm về sự chiếu vật được Đỗ Hữu Châu trình bày như sau: “Quan hệ giữa phát ngôn (diễn ngôn) với các bộ phận tạo nên ngữ cảnh của nó được gọi là sự chiếu vật (reference, référence, cũng được gọi là sự sở chỉ)…Chiếu vật là hiện tượng ngữ dụng học đầu tiên bởi vì nhờ chiếu vật mà ngôn ngữ gắn với ngữ cảnh, từ đó mà có căn cứ đầu tiên để xác định nghĩa của đơn vị ngôn ngữ đang thực hiện chức năng giao tiếp. Trong khi đó, Nguyễn Thiện Giáp gọi đó là quy chiếu: “Thuật ngữ quy chiếu (reference) được các nhà ngôn ngữ học dùng để chỉ mối quan hệ giữa các yếu tố ngôn ngữ với các sự vật, biến cố, hành động và tính chất mà chúng thay thế.
Quy chiếu là dấu hiệu đầu tiên thể hiện quan hệ giữa hoàn cảnh giao tiếp với diễn ngôn” [10, tr. Green, khái niệm về sự chiếu vật được định nghĩa như sau: “Thuật ngữ chiếu vật (reference) được dùng để chỉ phương tiện, nhờ đó người nói phát ra một biểu thức ngôn ngữ, với biểu thức này nghĩ rằng nó sẽ giúp cho người nghe suy ra được một cách đúng đắn thực thể nào, đặc tính nào, quan hệ nào, sự kiện nào anh ta định nói đến” [5, tr. Một điều cần lưu ý, tự thân các từ không quy chiếu đến cái gì cả mà chỉ có con người mới là chủ thể thực hiện điều đó. Vì thế, George Yule đã định nghĩa: “Sự quy chiếu là một hành động trong đó người nói (người viết) sử dụng các hình thái ngôn ngữ làm cho người nghe (người đọc) có thể nhận diện được cái mà mình có chủ đích đề cập đến” [28, tr.
Dựa trên cơ sở của một số khái niệm nêu trên, theo chúng tôi, chiếu vật là hiện tượng ngữ dụng học đầu tiên, thể hiện mối quan hệ giữa người phát ngôn (người sử dụng ngôn ngữ) với người nghe, người đọc thông qua biểu thức ngôn ngữ làm cầu nối 8 nhằm làm cho người tiếp nhận hiểu được ý nghĩa của đối tượng được nhắc đến trong một thế giới khả hữu (possible world) mà ở đó thực thể được quy chiếu tồn tại. Biểu thức chiếu vật 1. Khái niệm biểu thức chiếu vật Biểu thức chiếu vật (biểu thức quy chiếu) là khái niệm dùng để chỉ “những hình thức ngôn ngữ mà người nói/ người viết sử dụng để thực hiện quy chiếu trong ngữ cảnh cụ thể của ngữ liệu khảo sát” [12, tr. Trong cuốn “Cơ sở ngữ dụng học” (Tập 1), Đỗ Hữu Châu cho rằng: “Kết cấu ngôn từ (từ, cụm từ, câu) dùng để chiếu vật được gọi là biểu thức chiếu vật [5, tr.
Searle cho rằng: “bất cứ biểu thức nào được dùng để nhận biết một sự vật, một sự kiện, một quá trình, một hành động hoặc một cái gì đó có tính cá thể, riêng rẽ sẽ được tôi gọi là biểu thức chiếu vật” (trích theo Đỗ Hữu Châu [5, tr. Thuật ngữ biểu thức chiếu vật không đơn thuần để chỉ các tổ hợp ngôn từ mà cái chính là chỉ ra một điều gì đó cụ thể trong một ngữ cảnh cụ thể của hoạt động giao tiếp. Lựa chọn biểu thức quy chiếu nào là dựa trên cơ sở cái mà người nói cho rằng thuộc vốn hiểu biết của người nghe. Thế nên, dù biểu thức chiếu vật có cụ thể đến đâu cũng không làm cho người đọc, người nghe nhận biết ngay được sự vật quy chiếu.
Vì chỉ con người mới thực hiện được hành vi chiếu vật, đó không phải là việc tự thân của ngôn ngữ. Và biểu thức chiếu vật không phải bao giờ cũng chỉ có một nghĩa chiếu vật duy nhất mà có thể thay đổi nhiều nghĩa chiếu vật khác nhau tùy vào ngữ cảnh. Trong đề tài này, người viết sử dụng thuật ngữ “biểu thức chiếu vật” (Referring expression) dùng để chỉ phương tiện mà tác giả dùng để phát ra một biểu thức ngôn ngữ được thực hiện hành vi chiếu vật trong từng ngữ cảnh cụ thể của ngữ liệu khảo sát. Đề tài đồng ý với quan điểm của Đỗ Hữu Châu: “cũng như các tín hiệu ngôn ngữ khác, biểu thức chiếu vật có cái biểu đạt và cái được biểu đạt.
Cái biểu đạt của biểu thức chiếu vật là các đơn vị ngôn ngữ tạo nên nó. Còn cái được biểu đạt là sự vật được quy chiếu hay nghĩa chiếu vật tương ứng” [5, tr. Theo đó, trong khóa luận này, chúng tôi miêu tả đặc điểm đồng thời chỉ ra giá trị của các biểu thức chiếu vật chứa “trăng” trong thơ Nguyễn Bính trước Cách mạng trên hai bình diện: bình diện cái biểu đạt và bình diện cái được biểu đạt. Tiêu chí xác định biểu thức chiếu vật Trong bài báo “Ý nghĩa của các biểu thức chiếu vật chứa “trăng” trong Truyện Kiều của Nguyễn Du và trong thơ Xuân Diệu” [14], tác giả đã nhận diện yếu tố “trăng” và các biến thể của “trăng” như: “nguyệt”, “nga”, “thỏ”, “gương” là biểu thức chiếu vật.
Tuy nhiên, theo quan điểm của chúng tôi, đề tài chỉ xét các biểu thức chiếu vật có chứa từ “trăng”. Cụ thể, chúng tôi dựa vào một số tiêu chí xác định cơ bản sau đây để xác định biểu thức chiếu vật có chứa hình tượng “trăng” trong thơ Nguyễn Bính trước Cách mạng: a) Dựa vào hình thức: Mỗi biểu thức chiếu vật là một biểu thức ngôn ngữ, vì thế chúng có những đặc điểm như một biểu thức ngôn ngữ. Biểu thức chiếu vật tồn tại độc lập, có tính hoàn chỉnh về mặt cấu tạo: có thể tồn tại dưới dạng một từ hoặc một cụm từ. Nếu là một cụm từ, các biểu thức chiếu vật được xét là một cụm danh từ (ngữ danh từ).
b) Dựa vào ngữ cảnh giao tiếp (ngữ cảnh tình huống và ngữ cảnh văn hóa) mà ở đó biểu thức chiếu vật được sử dụng. Nghiên cứu biểu thức chiếu vật trong ngữ cảnh có thể phát hiện đặc điểm riêng của ý nghĩa mỗi biểu thức chiếu vật. c) Dựa vào ý nghĩa từ vựng của từ tạo nên biểu thức chiếu vật: Muốn hiểu được nghĩa của diễn ngôn, trước tiên phải xác định được nghĩa chiếu vật của các biểu thức chiếu vật trong diễn ngôn đó. Trong đó, cần phân biệt rõ nghĩa biểu vật và nghĩa chiếu vật.
Nghĩa biểu vật của từ “là sự phản ánh sự vật, hiện tượng… trong thực tế vào ngôn ngữ” chứ “không phải là sự vật hiện tượng… y như nó có thực trong thực tế. Chúng chỉ bắt nguồn từ đó mà thôi” [6, tr. Khi được quy chiếu bằng các biểu thức chiếu vật, nghĩa biểu vật có thể chuyển hóa thành nghĩa chiếu vật của các biểu thức chiếu vật đó. Nghĩa chiếu vật là phương diện đầu tiên của đặc trưng tính nhiều nghĩa trong tác phẩm văn học.
Nếu nghĩa biểu vật có tính ổn định, không phụ thuộc vào ngữ cảnh sử dụng thì nghĩa chiếu vật được xác định dựa vào thế giới khả hữu – hệ quy chiếu trong diễn ngôn. Lý thuyết hoạt động giao tiếp 1. Các nhân tố của hoạt động giao tiếp 1. Ngữ cảnh (situational context) Ngữ cảnh được hiểu là “bối cảnh ngoài ngôn ngữ của một phát ngôn hay là những thông tin ngoài ngôn ngữ góp phần tạo nên nghĩa (của phát ngôn)” [5, tr.
Các hợp phần của ngữ cảnh gồm: đối ngôn và hiện thực ngoài diễn ngôn. - Đối ngôn chỉ người tham gia vào một cuộc giao tiếp bằng việc sử dụng ngôn ngữ tạo ra các lời nói tương tác lẫn nhau. Để hoạt động giao tiếp được diễn ra, có ít nhất hai đối ngôn. Các đối ngôn có những đặc điểm về văn hóa, về vốn sống, về hoàn cảnh, về thói quen và đặc biệt là phải đồng nhất tri thức về đề tài được nói đến trong cuộc giao tiếp.
Giữa các đối ngôn này được xác lập dựa trên hai kiểu quan hệ chi phối giao tiếp cả hình thức lẫn nội dung, đó là quan hệ tương tác và quan hệ liên cá nhân. Mối quan hệ giữa các đối ngôn sẽ chi phối nội dung và hình thức diễn ngôn của nhân vật giao tiếp. - Hiện thực ngoài diễn ngôn là “tất cả những cái tạo thành môi trường cho một cuộc giao tiếp” [5, tr.106] loại trừ diễn ngôn, loại trừ các đối ngôn. Hay nói cách khác, “tất cả những yếu tố vật chất, xã hội, văn hóa… có tính cảm tính và những nội dung tinh thần tương ứng không được nói đến trong diễn ngôn của một cuộc giao tiếp” [7, tr.19] được gọi là hiện thực ngoài diễn ngôn.
Các nhân tố hợp thành hiện thực ngoài diễn ngôn gồm 4 bộ phận như sau: o Hiện thực – đề tài của diễn ngôn: Là “cái gì đó” được các đối ngôn “nói” đến khi giao tiếp, nói gọn là đề tài của diễn ngôn. Cái được nói tới “trước hết là những cái tồn tại, diễn tiến trong hiện thực ngoài ngôn ngữ và ngoài diễn ngôn” [7, tr.20] (những cái thuộc tâm giới của con người như cảm xúc, tư tưởng,. Cũng có khi hiện thực được nói tới là bản thân ngôn ngữ, “chính các cuộc giao tiếp, các diễn ngôn đã có hay đang được thực hiện” [4, tr. Như vậy, đề tài của diễn ngôn được chia thành hiện thực – đề tài ngoài diễn ngôn và hiện thực – đề tài trong diễn ngôn.
Đề tài của diễn ngôn không chỉ do người nói quyết định mà cần sự thỏa thuận của người nghe thì đối tượng để trao đổi mới trở thành hiện thực – đề tài của diễn ngôn. o Hoàn cảnh giao tiếp (Hoàn cảnh giao tiếp rộng): Là “tất cả những cái còn lại trong hiện thực ngoài ngôn ngữ làm nên hoàn cảnh giao tiếp rộng của cuộc giao 11 tiếp, của diễn ngôn” [7, tr.23], loại trừ thế giới khả hữu và hiện thực – đề tài. Hoàn cảnh giao tiếp “bao gồm tổng thể các nhân tố chính trị, địa lí, kinh tế, văn hóa, lịch sử với các tư tưởng, các chuẩn mực về đạo đức, ứng xử, với các thiết chế, các công trình, các tổ chức…” [5, tr.110-111] ở hiện trường giao tiếp. Trong đó, ta cần lưu ý đến: ngữ cảnh của người sáng tạo và o Thoại trường hay hiện trường giao tiếp (Hoàn cảnh giao tiếp hẹp): được hiểu là không gian, thời gian cụ thể mà ở đó cuộc giao tiếp diễn ra.
Không – thời gian thoại trường đòi hỏi người ta phải ứng xử, nói năng theo cách thức tương thích.