Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Ngôn ngữ không chỉ là công cụ của tư duy và phương tiện giao tiếp, mà còn là nơi lưu giữ các giá trị văn hóa và tinh thần dân tộc. Trong phân ngành Ngôn ngữ học, việc tiếp cận ngôn ngữ nghệ thuật dưới góc nhìn Ngữ dụng học (Pragmatics) giữ vai trò quan trọng nhằm làm sáng tỏ các lớp nghĩa tiềm ẩn đằng sau các ký hiệu ngôn từ trong diễn ngôn. Nếu Ngữ dụng học nghiên cứu mối quan hệ giữa ngôn ngữ và ngữ cảnh sử dụng, thì hiện tượng chiếu vật (reference) là hiện tượng trung tâm, đóng vai trò kết nối phát ngôn với ngữ cảnh giao tiếp.
Trong phong trào Thơ Mới (1932 – 1945), trong khi nhiều nhà thơ đương thời chịu ảnh hưởng sâu sắc từ trào lưu cách tân của phương Tây, Nguyễn Bính lại lựa chọn lối đi riêng gắn liền với cội nguồn văn hóa dân tộc thông qua hồn thơ dung dị, mộc mạc và đậm chất trữ tình dân gian. Yếu tố "trăng" xuất hiện với tần số cao trong thi phẩm của ông, mang tính biểu tượng nghệ thuật sâu sắc. Tuy nhiên, trước đây chưa có công trình khoa học nào khảo sát một cách hệ thống các phương tiện ngôn ngữ có ý nghĩa chiếu vật chứa từ "trăng" trong thơ Nguyễn Bính từ lăng kính Ngữ dụng học. Do đó, đề tài khóa luận được thực hiện nhằm giải mã các giá trị ngôn ngữ và thẩm mỹ của hình tượng này.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:
- Xác lập vị trí, vai trò của các biểu thức chiếu vật có chứa từ "trăng" trong ngôn ngữ thơ Nguyễn Bính giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám năm 1945.
- Tìm hiểu giá trị ý nghĩa và hình tượng nghệ thuật của "trăng" trong các biểu thức ngôn ngữ, từ đó khám phá thế giới nghệ thuật độc đáo và cá tính sáng tạo của nhà thơ.
- Khảo sát, phân loại và miêu tả đặc điểm của các biểu thức chiếu vật chứa "trăng" trên hai bình diện: cái biểu đạt (cấu trúc ngữ pháp, từ loại, quan hệ kết hợp) và cái được biểu đạt (hệ quy chiếu ngữ nghĩa).
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các biểu thức chiếu vật có chứa từ "trăng" trong ngôn ngữ thơ Nguyễn Bính trước Cách mạng.
- Phạm vi khảo sát: Cấu tạo ngữ pháp, quan hệ kết hợp của biểu thức với các yếu tố ngôn ngữ khác trong ngữ cảnh, và các thực thể được quy chiếu trong ngữ cảnh sử dụng.
- Tư liệu khảo sát: Tác phẩm Nguyễn Bính toàn tập – Tập 1 (Phần I – Thơ in trước 1945) do Nguyễn Bính Hồng Cầu sưu tầm, biên soạn (NXB Hội Nhà Văn, 2017).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý luận dựa trên sự tích hợp giữa Ngữ dụng học, Lý thuyết giao tiếp và Phong cách học ngôn ngữ thơ:
- Lý thuyết chiếu vật (Reference theory): Tiếp thu các quan điểm nghiên cứu của Charles Sanders Peirce, Charles William Morris, Stephen C. Levinson, George Yule, Georgia M. Green, John Searle, George Powell, Barbara Abbott trên thế giới; cùng các nghiên cứu nền tảng tại Việt Nam của GS. Đỗ Hữu Châu, GS. Nguyễn Đức Dân, GS. Nguyễn Thiện Giáp. Chiếu vật được xác định là hành vi mà người nói/người viết sử dụng các hình thức ngôn ngữ (biểu thức chiếu vật) làm cầu nối giúp người nghe/người đọc nhận diện thực thể được đề cập trong một thế giới khả hữu (possible world).
- Tiêu chí xác định biểu thức chiếu vật: Khóa luận giới hạn khảo sát các biểu thức ngôn ngữ có chứa trực tiếp yếu tố "trăng" (không bao gồm các từ đồng nghĩa/biến thể Hán Việt như nguyệt, nga, thỏ, gương). Biểu thức phải tồn tại độc lập, có tính hoàn chỉnh về mặt cấu tạo (từ hoặc ngữ danh từ), được đặt trong ngữ cảnh giao tiếp cụ thể để xác định sự chuyển hóa từ nghĩa biểu vật sang nghĩa chiếu vật.
- Lý thuyết hoạt động giao tiếp và ngôn ngữ thơ: Tiếp cận các nhân tố giao tiếp gồm đối ngôn (tác giả – độc giả), ngữ cảnh (hoàn cảnh giao tiếp rộng, thoại trường hẹp, ngữ huống) và diễn ngôn nghệ thuật (Z. S. Harris, H. G. Widdowson, D. Crystal). Đồng thời, khóa luận vận dụng các nghiên cứu về phong cách học và thi pháp học của Hoài Thanh – Hoài Chân, Nguyễn Phan Cảnh, Hữu Đạt, Đinh Trọng Lạc, Bùi Trọng Ngoãn, Chu Văn Sơn.
Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp phân tích, miêu tả ngôn ngữ học: Phân tích đặc điểm cấu tạo, chức năng ngữ pháp và ngữ nghĩa của các biểu thức chiếu vật.
- Thao tác thống kê, phân loại: Thu thập, định lượng và phân loại 51 biểu thức chiếu vật theo tiêu chí từ loại, cấu tạo ngữ pháp, chức năng cú pháp và hệ quy chiếu.
- Thao tác so sánh, đối chiếu: Đối sánh với các tác giả cùng thời hoặc cùng viết về đề tài thiên nhiên nhằm làm nổi bật nét riêng trong phong cách Nguyễn Bính.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và những vấn đề liên quan
Chương 1 hệ thống hóa các khái niệm công cụ phục vụ cho việc triển khai đề tài:
- Lý thuyết chiếu vật: Định nghĩa sự chiếu vật, phân biệt nghĩa biểu vật và nghĩa chiếu vật; phân tích cấu trúc của biểu thức chiếu vật gồm bình diện cái biểu đạt (đơn vị ngôn ngữ cấu tạo) và cái được biểu đạt (sự vật được quy chiếu/nghĩa chiếu vật).
- Lý thuyết hoạt động giao tiếp: Phân tích các thành tố chi phối nghĩa của phát ngôn gồm đối ngôn, hiện thực ngoài diễn ngôn (hiện thực – đề tài, hoàn cảnh rộng, hiện trường giao tiếp, ngữ huống) và diễn ngôn. Khẳng định hoạt động tiếp nhận văn học là hoạt động giao tiếp thẩm mỹ mang tính gián tiếp, đa tầng.
- Đặc trưng ngôn ngữ thơ: Xem xét ngôn ngữ thơ dưới góc nhìn phong cách học (tính hàm súc, tính biểu cảm, cấu trúc văn bản) và góc nhìn nghiên cứu văn học (tiền giả định bách khoa, hàm ý, tính phi lý tính và cú pháp nghệ thuật).
- Tác giả và thơ Nguyễn Bính trước Cách mạng: Giới thiệu tiểu sử Nguyễn Bính (1918 – 1966), hành trình sáng tác trước 1945 (Tâm hồn tôi, Lỡ bước sang ngang, Hương cố nhân, Một nghìn cửa sổ...), định vị hình tượng cái tôi trữ tình kết hợp giữa "thôn dân" và "nho sinh", thể hiện giấc mơ quan Trạng gắn liền với không gian làng quê truyền thống.
Chương 2: Các biểu thức chiếu vật chứa trăng trong ngôn ngữ thơ Nguyễn Bính trước Cách mạng nhìn từ bình diện cái biểu đạt
Chương 2 tiến hành khảo sát, thống kê và phân tích cấu trúc hình thức của 51 biểu thức chiếu vật chứa từ "trăng" được trích xuất từ tư liệu nghiên cứu:
51 Biểu thức chiếu vật chứa "trăng"
- Xét theo cấu tạo từ loại:
- Nhóm danh từ: Chiếm ưu thế với 33/51 biểu thức (64,71%). Trong đó, từ đơn chiếm tỷ lệ vượt trội với 27/33 biểu thức (81,82%), sử dụng duy nhất một yếu tố "trăng" độc lập nhưng quy chiếu đến nhiều thực thể khác nhau tùy ngữ cảnh. Từ ghép chiếm 6/33 biểu thức (18,18%), gồm 5 đơn vị: trăng gió (2 lần, 33,33%), trăng liềm (1 lần, 16,67%), trăng non (1 lần, 16,67%), trăng tà (1 lần, 16,67%), cung trăng (1 lần, 16,67%). Không xuất hiện từ láy hay từ ngẫu kết.
- Nhóm ngữ danh từ (danh ngữ): Chiếm 18/51 biểu thức (35,29%). Khi khảo sát theo mô hình danh ngữ 3 phần (Phần phụ trước [-3, -2, -1], Phần trung tâm [0], Phần phụ sau [+1, +2]):
- Thành tố trung tâm: Xuất hiện dạng trung tâm đơn hoặc trung tâm ghép (T1: danh từ chỉ đơn vị như ánh, vầng, mảnh; T2: danh từ chỉ sự vật trăng).
- Thành tố phụ trước: Chủ yếu xuất hiện ở vị trí -2 chỉ số lượng (nửa vầng trăng, một mảnh trăng tàn) hoặc vị trí -1 chỉ xuất mang sắc thái tình thái (cái trăng suông).
- Thành tố phụ sau: Chiếm đa số ở vị trí +1 là tính từ miêu tả trạng thái (trăng vàng, trăng trong vắt, trăng lành lạnh, trăng non) hoặc danh từ chỉ thời gian (trăng thu, trăng khuya). Toàn bộ ngữ liệu không xuất hiện phụ tố chỉ định ở vị trí +2 (này, kia, ấy, nọ).
- Xét theo quan hệ kết hợp và chức năng cú pháp:
- Kết hợp trong cụm từ chiếm 9/51 trường hợp (17,65%), toàn bộ là cụm từ tự do chính phụ.
- Kết hợp trong câu chiếm 42/51 trường hợp (82,35%).
- Khảo sát chi tiết chức năng ngữ pháp của các biểu thức trong câu (trên 40 trường hợp tiêu biểu):
- Vị ngữ: 19 trường hợp (47,5% nhóm câu; 37,25% trên tổng số 51).
- Chủ ngữ: 18 trường hợp (45,0% nhóm câu; 35,29% trên tổng số 51), thường đứng đầu câu kết hợp với các vị từ hành động (rụng, nghiêng, vào, tìm).
- Trạng ngữ: 3 trường hợp (7,5% nhóm câu; 5,88% trên tổng số 51), đảm nhận chức năng chỉ thời gian, địa điểm (đêm trăng, thềm trăng, ở cung trăng).
Chương 3: Các biểu thức chiếu vật chứa trăng trong ngôn ngữ thơ Nguyễn Bính trước Cách mạng nhìn từ bình diện cái được biểu đạt
Chương 3 phân tích nội dung và ý nghĩa chiếu vật của 51 biểu thức dựa trên các hệ quy chiếu ngữ nghĩa trong tác phẩm:
- Phân loại theo hệ quy chiếu:
- Hệ quy chiếu Thế giới tự nhiên: Chiếm 27/51 biểu thức (52,94%). Trăng được miêu tả như một thực thể vũ trụ gắn liền với cảnh quan làng quê, đồng ruộng (trăng giãi lên trên vườn chè, ngõ quạnh trăng vàng). Hình tượng trăng được thi vị hóa qua các liên tưởng động như "thuyền trăng" (Thuyền trăng ai thả sang Đoài), hoặc đóng vai trò người bạn đồng hành với kiếp nghèo (Bạn bè chỉ có gió trăng theo).
- Hệ quy chiếu Thế giới con người: Chiếm 15/51 biểu thức (29,41%). Trăng trở thành phương tiện phản chiếu thế giới nội tâm, tâm trạng cô đơn, chia lìa, nỗi tương tư của nhân vật trữ tình (Đêm nay trăng rụng về bên ấy / Gác trọ còn nguyên gió thất tình; Trăng vào bóng nữa là ba).
- Hệ quy chiếu Không gian – Thời gian: Chiếm 9/51 biểu thức (17,65%). Trăng quy chiếu đến các thời điểm cụ thể trong đêm hoặc mùa (trăng khuya, trăng thu, đêm trăng) và không gian biểu trưng (cung trăng).
- Giá trị biểu đạt và cá tính sáng tạo:
- Về mặt nội dung hình tượng: Trăng trong thơ Nguyễn Bính vừa mang tính tạo hình thẩm mỹ cho bức tranh nông thôn Việt Nam, vừa là biểu tượng của sự thanh khiết, tấm lòng thủy chung và nỗi buồn tha hương.
- Về phương diện cá tính sáng tạo: Việc lựa chọn các biểu thức chiếu vật mang phong vị dân gian kết hợp với các kết hợp từ độc đáo khẳng định nét phong cách riêng biệt của "nhà thơ đồng quê" trong phong trào Thơ Mới.
Kết quả và đóng góp
Bảng tổng hợp số liệu khảo sát các biểu thức chiếu vật chứa "trăng"
| Tiêu chí phân loại |
Phân nhóm chi tiết |
Số lượng (n = 51) |
Tỷ lệ (%) |
| 1. Cấu tạo từ loại |
Danh từ |
33 |
64,71% |
|
Ngữ danh từ |
18 |
35,29% |
| 2. Cấu tạo danh từ |
Từ đơn (trăng) |
27 |
52,94% (81,82% nhóm danh từ) |
|
Từ ghép (trăng gió, trăng liềm, trăng non...) |
6 |
11,76% (18,18% nhóm danh từ) |
|
Từ láy / Từ ngẫu kết |
0 |
0,00% |
| 3. Quan hệ kết hợp |
Kết hợp trong câu |
42 |
82,35% |
|
Kết hợp trong cụm từ |
9 |
17,65% |
| 4. Chức năng cú pháp trong câu (Khảo sát trên 40 trường hợp) |
Vị ngữ |
19 |
37,25% (47,50% nhóm câu) |
|
Chủ ngữ |
18 |
35,29% (45,00% nhóm câu) |
|
Trạng ngữ |
3 |
5,88% (7,50% nhóm câu) |
| 5. Hệ quy chiếu ngữ nghĩa |
Hệ quy chiếu Thế giới tự nhiên |
27 |
52,94% |
|
Hệ quy chiếu Thế giới con người |
15 |
29,41% |
|
Hệ quy chiếu Không gian – Thời gian |
9 |
17,65% |
Đóng góp khoa học và thực tiễn
- Về mặt lý luận: Khóa luận cụ thể hóa lý thuyết chiếu vật của Ngữ dụng học vào phân tích một đối tượng văn học cụ thể; xây dựng khung miêu tả song song giữa hai bình diện cái biểu đạt (ngữ pháp, từ loại, cú pháp) và cái được biểu đạt (hệ quy chiếu ngữ dụng).
- Về mặt thực tiễn: Cung cấp bộ dữ liệu 51 biểu thức chiếu vật có chứa từ "trăng" trong thơ Nguyễn Bính trước 1945; bổ sung tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu ngôn ngữ tác giả và phục vụ công tác giảng dạy tác phẩm Nguyễn Bính trong chương trình Ngữ văn.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Đề tài chỉ giới hạn khảo sát các biểu thức chiếu vật có chứa trực tiếp từ "trăng", chưa mở rộng sang các biểu thức chiếu vật đồng nghĩa, hoán dụ hoặc ẩn dụ chỉ trăng (như nguyệt, nga, bóng thỏ, gương nga). Phạm vi tư liệu mới dừng lại ở giai đoạn sáng tác trước Cách mạng năm 1945 trong Nguyễn Bính toàn tập – Tập 1.
- Hướng mở rộng: Mở rộng nghiên cứu toàn bộ các biểu thức chiếu vật chỉ trăng (bao gồm các biến thể từ vựng) trong toàn bộ sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Bính (cả trước và sau 1945); tiến hành nghiên cứu đối sánh ngữ dụng học về biểu thức chiếu vật chỉ thiên nhiên giữa Nguyễn Bính và các nhà thơ cùng thời như Hàn Mặc Tử, Xuân Diệu.
Giá trị tham khảo
- Đối tượng thụ hưởng: Sinh viên, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Sư phạm Ngữ văn, Ngôn ngữ học, Văn học Việt Nam.
- Nội dung có giá trị ứng dụng cao:
- Quy trình phân loại danh ngữ tiếng Việt theo mô hình cấu trúc thành tố phụ trước – trung tâm – phụ sau để phân tích ngữ liệu văn học.
- Phương pháp phân lập hệ quy chiếu ngữ dụng để giải mã ngữ nghĩa và hình tượng nghệ thuật trong thơ ca trung và hiện đại.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận khảo sát bao nhiêu biểu thức chiếu vật chứa "trăng" và trích từ nguồn tư liệu nào?
Khóa luận đã thống kê và phân tích tổng cộng 51 biểu thức chiếu vật chứa từ "trăng". Toàn bộ ngữ liệu được trích xuất từ phần thơ sáng tác trước năm 1945 trong tác phẩm Nguyễn Bính toàn tập – Tập 1 do Nguyễn Bính Hồng Cầu sưu tầm, biên soạn (NXB Hội Nhà Văn, 2017).
2. Về mặt cấu tạo ngữ pháp, các biểu thức chiếu vật có đặc điểm gì nổi bật?
Về từ loại, biểu thức dạng danh từ chiếm đa số với 33/51 biểu thức (64,71%), còn lại là ngữ danh từ với 18/51 biểu thức (35,29%). Trong nhóm danh từ, từ đơn (trăng) chiếm tỷ lệ áp đảo 81,82% (27/33), từ ghép chiếm 18,18% (6/33 gồm: trăng gió, trăng liềm, trăng non, trăng tà, cung trăng), hoàn toàn không có từ láy.
3. Về chức năng cú pháp trong câu, các biểu thức chiếu vật đảm nhiệm những vai trò nào?
Trong 40 trường hợp được phân tích cú pháp câu, biểu thức chiếu vật đảm nhiệm 3 vai trò chính: làm Vị ngữ chiếm tỷ lệ cao nhất với 47,5% (19 trường hợp), làm Chủ ngữ chiếm 45,0% (18 trường hợp), và làm Trạng ngữ chỉ thời gian/không gian chiếm 7,5% (3 trường hợp).
4. Các biểu thức chiếu vật chứa "trăng" quy chiếu đến những hệ quy chiếu nào?
Khóa luận phân lập 3 hệ quy chiếu:
- Hệ quy chiếu Thế giới tự nhiên chiếm tỷ lệ cao nhất với 52,94% (27 biểu thức).
- Hệ quy chiếu Thế giới con người (tâm trạng, thân phận, tình yêu) chiếm 29,41% (15 biểu thức).
- Hệ quy chiếu Không gian – Thời gian chiếm 17,65% (9 biểu thức).
5. Tiêu chí xác định biểu thức chiếu vật của khóa luận có điểm gì khác với các công trình đi trước?
Khác với một số công trình mở rộng khảo sát cả các biến thể từ Hán Việt như nguyệt, nga, thỏ, gương, tác giả khóa luận chủ động giới hạn chỉ khảo sát các tổ hợp từ ngữ có chứa trực tiếp hình vị "trăng", đảm bảo tính trọn vẹn về mặt hình thức ngữ pháp (từ hoặc ngữ danh từ) và được đặt trong ngữ cảnh cụ thể để xác định sự chuyển hóa nghĩa chiếu vật.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Kiều Phương Ngọc đã nghiên cứu một cách có hệ thống 51 biểu thức chiếu vật chứa từ "trăng" trong thơ Nguyễn Bính trước năm 1945 dưới ánh sáng của lý thuyết Ngữ dụng học. Thông qua việc miêu tả cấu trúc ngữ pháp ở bình diện cái biểu đạt và phân tích 3 hệ quy chiếu ở bình diện cái được biểu đạt, công trình làm sáng tỏ sự kết hợp giữa ngôn ngữ bình dị dân gian và tính hàm súc nghệ thuật của nhà thơ. Kết quả nghiên cứu cung cấp tư liệu định lượng xác thực, đóng góp thiết thực cho việc tiếp cận và giảng dạy thi phẩm Nguyễn Bính từ góc độ ngôn ngữ học hiện đại.